Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân không?

Doanh nghiệp tư nhân tư cách pháp nhân không

Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân vì do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Trong giai đoạn hiện nay, ngày càng nhiều công ty được thành lập.

Trong số đó, bên cạnh những công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, thì doanh nghiệp tư nhân vẫn khẳng định được vị thế của mình.

Bài viết dưới đây của Luật Quang Huy chúng tôi sẽ giúp ban giải đáp về câu hỏi doanh nghiệp tư nhân có tư cách pháp nhân không?


Cơ sở pháp lý

  • Luật Doanh nghiệp 2020;
  • Nghị định số 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp.

Điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân

Pháp nhân là gì?

Pháp nhân là gì?

Pháp nhân là một tổ chức có tư cách pháp lý độc lập, có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội theo quy định của pháp luật.

Một tổ chức có tư cách pháp nhân là tổ chức có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một pháp nhân mà luật đã quy định.

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020 thì công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.


Điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân?

Theo khoản 1 điều 74 Bộ luật Dân sự 2015, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;

b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;

c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Theo đó, có bốn điều kiện để một tổ chức được công nhận là pháp nhân.

Thứ nhất, được thành lập theo đúng quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Theo đó, pháp nhân cần đảm bảo thỏa mãn các điều kiện cơ bản như:

  • Tên Doanh nghiệp:
  • Tên doanh nghiệp phải viết được bằng tiếng Việt, có thể kèm theo chữ số và ký hiệu, phải phát âm được và có ít nhất hai thành tố: Loại hình doanh nghiệp và tên riêng.
  • Tên doanh nghiệp phải được viết hoặc gắn tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp.
  • Tên doanh nghiệp phải được in hoặc viết trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành.
  • Địa chỉ doanh nghiệp: Doanh nghiệp phải có địa chỉ cụ thể, rõ ràng, địa chỉ chính xác
  • Vốn:
  • Vốn điều lệ của doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp mới nhất quy định là tổng số vốn do các thành viên hoặc cổ đông góp hoặc cam kết sẽ góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ công ty.
  • Mục đích của việc thành lập doanh nghiệp là kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, do đó doanh nghiệp phải có vốn, vốn kinh doanh của doanh nghiệp hình thành từ những nguồn khác nhau.
  • Doanh nghiệp phải kê khai mức vốn điều lệ cho phù hợp với quy định của pháp luật khi kinh doanh

Thứ hai, có cơ cấu tổ chức theo quy định. Cụ thể:

  • Pháp nhân phải có cơ quan điều hành.
  • Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.
  • Chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân.
  • Chi nhánh có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân.
  • Văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện trong phạm vi do pháp nhân giao, bảo vệ lợi ích của pháp nhân.

Thứ ba, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình.

Thứ tư, nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân

Vì sao doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân?

Khái quát về doanh nghiệp tư nhân

Trước tiên, dưới góc nhìn ngôn ngữ học, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, có tên riêng, trụ sở riêng, hoạt động nhằm mục đích sinh lời.

Còn “tư nhân”, hiểu theo nghĩa đơn thuần nhất là “một người”.

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm doanh nghiệp tư nhân được quy định tại điều 188, Luật Doanh nghiệp 2020 như sau:

Điều 188. Doanh nghiệp tư nhân

1. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Theo đó, có thể thấy rằng, doanh nghiệp tư nhân có những đặc điểm pháp lí dưới đây.

Doanh nghiệp tư nhân tư cách pháp nhân không

Thứ nhất, về chủ sở hữu: Chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân phải đáp ứng đủ năm điều kiện sau.

Một là, chủ sở hữu phải là cá nhân, từ đủ 18 tuổi trở lên.

Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân có thể mang quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài, và phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

Lưu ý, cần loại trừ những trường hợp sau:

    • Một cá nhân chỉ được phép đồng thời làm chủ một doanh nghiệp tư nhân.
    • Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân không được trở thành thành viên hợp danh trong công ty hợp danh hoặc chủ sở hữu hộ kinh doanh.
    • Không rơi vào các trường hợp bị cấm thành lập quản lí, điều hành doanh nghiệp được quy định tại điều 17, khoản 2, luật Doanh nghiệp 2020. Cụ thể:
  • Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
  • Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức;
  • Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;
  • Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
  • Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
  • Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng.

Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh;

  • Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Hai là, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân là người toàn quyền quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh hằng ngày của doanh nghiệp, là người  duy nhất bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp.

Ba là, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân là người hưởng toàn bộ lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau khi đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ về thuế và nghĩa vụ về tài sản khác.

Bốn là, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân có quyền thuê giám đốc để thực hiện hoạt động điều hành hoặc quản lí doanh nghiệp.

Năm là, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân.

Thứ hai, về trách nhiệm tài sản. Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm tài sản vô hạn đối với toàn bộ khoản nợ và nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ ba, về tư cách pháp nhân. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.


Vì sao doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân?

Thứ nhất, doanh nghiệp tư nhân không có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và  không thể tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình.

Cụ thể, tài sản của doanh nghiệp tư nhân không có tính độc lập với chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân.

Chủ doanh nghiệp tư nhân tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải doanh nghiệp tư nhân.

Doanh nghiệp tư nhân không có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, không có quyền mua phần vốn góp của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh.

Ví dụ: Ông X là chủ doanh nghiệp tư nhân Y.

Do chưa có nhiều kinh nghiệm kinh doanh và gặp nhiều rủi ro khác, công việc kinh doanh thua lỗ. Số nợ của công ty là 20 tỷ đồng.

Công ty không còn khả năng thanh toán dẫn đến phá sản. Số vốn đăng kí trên giấy phép kinh doanh là 5 tỷ đồng.

Sau khi thanh lí hết số tài sản của công ty mà vẫn không đủ để trả nợ, thì chủ doanh nghiệp tư nhân là ông X vẫn phải tiếp tục sử dụng tài sản riêng của mình để thanh toán số nợ còn lại cho  công ty.

Không những thế, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân còn có quyền cho thuê doanh nghiệp tư nhân của mình, cũng có luôn quyền được bán doanh nghiệp tư nhân của mình.

Như vậy, có thể thấy rằng tài sản của doanh nghiệp tư nhân và tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân không có sự tách bạch rõ ràng.

Thứ hai, doanh nghiệp tư nhân không thể nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Điều 190 Luật doanh nghiệp 2020 có quy định như sau:

Điều 190. Quản lý doanh nghiệp tư nhân

1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

2. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc để quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh; trường hợp này, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân.

3. Chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Theo đó, trong quan hệ tố tụng, doanh nghiệp tư nhân không được nhân danh mình để tham gia với tư cách độc lập.

Chủ thể có tư cách tham gia tố tụng phải là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân chứ không phải doanh nghiệp tư nhân.

Tựu chung hai tiêu chí đã phân tích ở trên, cho thấy doanh nghiệp tư nhân không thỏa mãn hai trong bốn điều kiện cần thiết để một chủ thể có đủ tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật.

Như vậy, doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.


Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về vấn đề: Hướng dẫn đăng kí kinh doanh qua mạng theo quy định của pháp luật.

Nếu còn vấn đề thắc mắc hoặc chưa rõ bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua tổng đài tư vấn luật doanh nghiệp của HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

G