Những điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp năm 2020

Những điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp năm 2020

Luật Doanh nghiệp 2020 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV ngày 17/6/2020.

Từ ngày 01/01/2021, Luật Doanh nghiệp năm 2020 sẽ chính thức có hiệu lực và thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2020 có những điểm mới gì nổi bật?

Bài viết dưới đây của Luật Quang Huy của chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn đọc về những điểm mới của Luật Doanh Nghiệp năm 2020.


Nội dung bài viết

Bổ sung đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam

Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 đều ghi nhận các đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam.

So với Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 tại Khoản 2 Điều 17 bổ sung thêm 1 vài đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp bao gồm:

  • Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
  • Công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
  • Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Khái niệm doanh nghiệp nhà nước bị thay đổi

Tại Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 khái niệm doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Đến Luật Doanh nghiệp năm 2020 tại Điều 88 có sự bổ sung về khái niệm doanh nghiệp nhà nước, ngoài doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thì còn có doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.


Doanh nghiệp nhà nước phải thành lập Ban Kiểm soát 

Nếu như tại Khoản 1 Điều 102 Luật Doanh nghiệp năm 2014 chỉ quy định:

Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định bổ nhiệm 01 Kiểm soát viên hoặc thành lập Ban kiểm soát gồm 03 đến 05 Kiểm soát viên

Thì đến khoản 1 Điều 103 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có sự sửa đổi:

Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập Ban kiểm soát có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên, trong đó có Trưởng Ban kiểm soát.

Như vậy, ở Luật Doanh nghiệp trước đây cơ quan đại diện chủ sở hữu có thể lựa chọn bổ nhiệm 1 Kiểm soát viên hoặc thành lập Ban kiểm soát còn đến Luật Doanh nghiệp hiện hành thì việc thành lập Ban kiểm soát là bắt buộc.


Điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã loại bỏ quy định về thông báo mẫu dấu doanh nghiệp trước khi sử dụng

Trước đây, tại khoản 2 Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định trước khi sử dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Hiện tại, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về việc thông báo mẫu con dấu trước khi sử dụng đã được lược bỏ.

Quy định về con dấu của doanh nghiệp hiện nay chỉ còn những nội dung:

Dấu bao gồm dấu được làm tại cơ sở khắc dấu hoặc dấu dưới hình thức chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Doanh nghiệp quyết định loại dấu, số lượng, hình thức và nội dung dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị khác của doanh nghiệp.

Việc quản lý và lưu giữ dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty hoặc quy chế do doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc đơn vị khác của doanh nghiệp có dấu ban hành. Doanh nghiệp sử dụng dấu trong các giao dịch theo quy định của pháp luật.

Những điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp năm 2020


Thời gian tạm ngừng kinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh được rút ngắn

Một trong số những điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp hiện hành là về việc rút ngắn tối thiểu thời gian tạm ngừng kinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh của doanh nghiệp.

Cụ thể, ở Luật Doanh nghiệp năm 2014 tại khoản 1 Điều 200 có quy định:

Doanh nghiệp có quyền tạm ngừng kinh doanh nhưng phải thông báo bằng văn bản về thời điểm và thời hạn tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh cho Cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất 15 ngày trước ngày tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh

Đến Khoản 1 Điều 206 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có sự thay đổi đáng kể về thời gian thông báo như sau:

Doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày tạm ngừng kinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh trước thời hạn đã thông báo.

Như vậy, thời gian thông báo tạm ngừng kinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh theo quy định hiện hành đã rút ngắn chỉ còn bằng 1/5 theo thời gian tại quy định cũ.


Bắt buộc tên địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệp kèm theo cụm từ “Địa điểm kinh doanh” đối với địa điểm kinh doanh

Luật Doanh nghiệp năm 2020 vẫn giữ nguyên quy định về việc địa điểm kinh doanh phải được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và các ký hiệu.

Khoản 2 Điều 40 Luật Doanh nghiệp đã bổ sung thêm quy định địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệp kèm theo cụm từ “Địa điểm kinh doanh” đối với địa điểm kinh doanh.

Trong khi đó hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014 chỉ quy định tên chi nhánh, văn phòng đại diện phải mang tên doanh nghiệp kèm theo cụm từ “Chi nhánh” đối với chi nhánh, cụm từ “Văn phòng đại diện” đối với văn phòng đại diện tại Khoản 2 Điều 41.


Điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về vốn góp

Tỷ lệ vốn trong doanh nghiệp Nhà nước bị thay đổi 

Theo khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020, Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

Khác với quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp nhà nước phải là do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, Luật Doanh nghiệp năm 2020 lại có sự thay đổi về tỷ lệ vốn như sau:

Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm:

  • Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
  • Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

Đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm:

  • Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ – công ty con;
  • Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết bao gồm:

  • Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ – công ty con;
  • Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

Quy đnh xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt bị sửa đổi 

So với quy định về xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt tại Điều 54 Luật Doanh nghiệp năm 2014, Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020 có sự sửa đổi và bổ sung các trường hợp như sau:

  • Nếu Khoản 2 Điều 54 Luật Doanh nghiệp năm 2014 chỉ quy định về thành viên bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì quyền và nghĩa vụ của thành viên đó trong công ty được thực hiện thông qua người giám hộ.

Đến Luật Doanh nghiệp năm 2020 bổ sung thêm trường hợp thành viên có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và sửa đổi quyền và nghĩa vụ của các thành viên này sẽ được thực hiện thông qua người đại diện.

  • Trường hợp thành viên tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác cũng có sự sửa đổi

Nếu như tại Luật cũ người được tặng cho chỉ có thể đương nhiên là thành viên của công ty nếu họ là vợ, chồng, cha, mẹ, con, người có quan hệ họ hàng đế hàng thừa kế thứ ba thì theo Luật Doanh nghiệp hiện hành đối tượng đương nhiên là thành viên của công ty là những người thuộc đối tượng thừa kế theo pháp luật.

Luật Doanh nghiệp năm 2020 có quy định bổ sung thêm 2 trường hợp như sau:

8. Trường hợp thành viên công ty là cá nhân bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc thì thành viên đó ủy quyền cho người khác thực hiện một số hoặc tất cả quyền và nghĩa vụ của mình tại công ty.

9. Trường hợp thành viên công ty là cá nhân bị Tòa án cấm hành nghề, làm công việc nhất định hoặc thành viên công ty là pháp nhân thương mại bị Tòa án cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định thuộc phạm vi ngành, nghề kinh doanh của công ty thì thành viên đó không được hành nghề, làm công việc đã bị cấm tại công ty đó hoặc công ty tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh ngành, nghề có liên quan theo quyết định của Tòa án.


Bổ sung hồ sơ đăng ký thành lập công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần

Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng có quy định bổ sung về hồ sơ đăng ký thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.

Cụ thể, tại Điều 21 và Điều 22 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bổ sung các loại giấy tờ như sau:

  • Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có bản sao giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với thành viên là cá nhân, người đại diện theo pháp luật;
  • Đối với công ty cổ phần có bản sao giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân, người đại diện theo pháp luật.

Đã có quy định về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết 

Tại Khoản 6 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bổ sung quy định về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết.

Cụ thể:

6. Cổ phần phổ thông được dùng làm tài sản cơ sở để phát hành chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết được gọi là cổ phần phổ thông cơ sở. Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết có lợi ích kinh tế và nghĩa vụ tương ứng với cổ phần phổ thông cơ sở, trừ quyền biểu quyết.


Điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về cổ đông

Sửa đổi quy đnh v quyn ca c đông ph thông 

Luật Doanh nghiệp năm 2014 chỉ quy định về quyền của cổ đông phổ phông; Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty tại Điều 114.

Đến Luật Doanh nghiệp năm 2020 tại Điều 115 quy định về quyền của cổ đông phổ thông; Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty; Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty.

Bổ sung thêm nghĩa vụ của cổ đông

Ngoài việc vẫn giữ nguyên các nghĩa vụ của cổ đông như Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng có sự bổ sung thêm về vấn đề này.

Tới Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2020, cổ đông có thêm nghĩa vụ bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửi thông tin được công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác.


Cho phép chuyển đổi nhiều loại hình doanh nghiệp với doanh nghiệp tư nhân

Trước đây, tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 chỉ có quy định về chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn tại Điều 199.

Đến Luật Doanh nghiệp năm 2020, doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo Điều 205, cụ thể:

1. Doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hoặc công ty hợp danh theo quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Doanh nghiệp được chuyển đổi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này;

b) Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả khoản nợ chưa thanh toán và cam kết thanh toán đủ số nợ khi đến hạn;

c) Chủ doanh nghiệp tư nhân có thỏa thuận bằng văn bản với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty được chuyển đổi tiếp nhận và tiếp tục thực hiện các hợp đồng đó;

d) Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản với các thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp tư nhân.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

3. Công ty được chuyển đổi đương nhiên kế thừa quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả khoản nợ phát sinh trước ngày công ty được chuyển đổi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.


Bổ sung thêm trách nhiệm của người quản lý công ty cổ phần 

Quy định về trách nhiệm của người quản lý công ty cổ phần có sự thay đổi như sau:

Điều 160 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Điều 165 Luật Doanh nghiệp năm 2020
1. Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác có trách nhiệm sau đây:

a) Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao theo đúng quy định của Luật này, pháp luật có liên quan, Điều lệ công ty, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;

b) Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty;

c) Trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

d) Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về doanh nghiệp mà họ và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có phần vốn góp, cổ phần chi phối; thông báo này được niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty.

2. Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

1. Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác có trách nhiệm sau đây:

a) Thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao theo quy định của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan, Điều lệ công ty, nghị quyết Đại hội đồng cổ đông;

b) Thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty;

c) Trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông; không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

d) Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về nội dung quy định tại khoản 2 Điều 164 của Luật này;

đ) Trách nhiệm khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

2. Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba.

Như vậy, ở Luật Doanh nghiệp hiện hành, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác vi phạm trách nhiệm của mình sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba.

Đây là trách nhiệm không có trong quy định của Luật cũ.


Bổ sung trường hợp chấm dứt tư cách thành viên hợp danh 

Quy định về các trường hợp chấm dứt tư cách thành viên hợp danh có sự thay đổi như sau:

Điều 180 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Điều 185 Luật Doanh nghiệp năm 2020
1. Tư cách thành viên hợp danh chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

a) Tự nguyện rút vốn khỏi công ty;

b) Đã chết, bị Tòa án tuyên bố là mất tích, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự;

c) Bị khai trừ khỏi công ty;

d) Các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.

2. Thành viên hợp danh có quyền rút vốn khỏi công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận. Trường hợp này, thành viên muốn rút vốn khỏi công ty phải thông báo bằng văn bản yêu cầu rút vốn chậm nhất 06 tháng trước ngày rút vốn; chỉ được rút vốn vào thời điểm kết thúc năm tài chính và báo cáo tài chính của năm tài chính đó đã được thông qua.

3. Thành viên hợp danh bị khai trừ khỏi công ty trong các trường hợp sau đây:

a) Không có khả năng góp vốn hoặc không góp vốn như đã cam kết sau khi công ty đã có yêu cầu lần thứ hai;

b) Vi phạm quy định tại Điều 175 của Luật này;

c) Tiến hành công việc kinh doanh không trung thực, không cẩn trọng hoặc có hành vi không thích hợp khác gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của công ty và các thành viên khác;

d) Không thực hiện đúng các nghĩa vụ của thành viên hợp danh.

4. Trường hợp chấm dứt tư cách thành viên của thành viên bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì phần vốn góp của thành viên đó được hoàn trả công bằng và thỏa đáng.

5. Trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này thì người đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên.

6. Sau khi chấm dứt tư cách thành viên, nếu tên của thành viên bị chấm dứt đã được sử dụng làm thành một phần hoặc toàn bộ tên công ty thì người đó hoặc người thừa kế, người đại diện theo pháp luật của họ có quyền yêu cầu công ty chấm dứt việc sử dụng tên đó.

1. Thành viên hợp danh bị chấm dứt tư cách trong trường hợp sau đây:

a) Tự nguyện rút vốn khỏi công ty;

b) Chết, mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

c) Bị khai trừ khỏi công ty;

d) Chấp hành hình phạt tù hoặc bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định của pháp luật;

đ) Trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.

2. Thành viên hợp danh có quyền rút vốn khỏi công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận. Trường hợp này, thành viên muốn rút vốn khỏi công ty phải thông báo bằng văn bản yêu cầu rút vốn chậm nhất là 06 tháng trước ngày rút vốn; chỉ được rút vốn vào thời điểm kết thúc năm tài chính và báo cáo tài chính của năm tài chính đó đã được thông qua.

3. Thành viên hợp danh bị khai trừ khỏi công ty trong trường hợp sau đây:

a) Không có khả năng góp vốn hoặc không góp vốn như đã cam kết sau khi công ty đã có yêu cầu lần thứ hai;

b) Vi phạm quy định tại Điều 180 của Luật này;

c) Tiến hành công việc kinh doanh không trung thực, không cẩn trọng hoặc có hành vi không thích hợp khác gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của công ty và thành viên khác;

d) Không thực hiện đúng nghĩa vụ của thành viên hợp danh.

4. Trường hợp chấm dứt tư cách thành viên của thành viên bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phần vốn góp của thành viên đó được hoàn trả công bằng và thỏa đáng.

5. Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh theo quy định tại các điểm a, c, d và đ khoản 1 Điều này thì người đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên.

6. Sau khi chấm dứt tư cách thành viên hợp danh, nếu tên của thành viên đó đã được sử dụng thành một phần hoặc toàn bộ tên công ty thì người đó hoặc người thừa kế, người đại diện theo pháp luật của họ có quyền yêu cầu công ty chấm dứt việc sử dụng tên đó.

Như vậy, về việc bổ sung thì Luật mới có thêm các trường hợp chấm dứt tư cách thành viên hợp danh như sau:

  • Có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
  • Chấp hành hình phạt tù hoặc bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp hiện hành cũng có sự sửa đổi quy định từ việc phải bị Tòa án tuyên bố là mất tích, hạn chế năng lực hành vi dân sự thì chỉ cần thành viên hợp danh đó mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự sẽ bị chấm dứt tư cách.


Bổ sung quy định “thực hiện quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân trong một số trường hợp đặc biệt”

Ngoài ra, tới Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có sự bổ sung hoàn toàn 1 quy định mới về thực hiện quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân trong một số trường hợp đặc biệt tại Điều 193 như sau:

1. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc thì ủy quyền cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

2. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết thì người thừa kế hoặc một trong những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là chủ doanh nghiệp tư nhân theo thỏa thuận giữa những người thừa kế. Trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận được thì đăng ký chuyển đổi thành công ty hoặc giải thể doanh nghiệp tư nhân đó.

3. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân được xử lý theo quy định của pháp luật về dân sự.

4. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân được thực hiện thông qua người đại diện.

5. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thuộc phạm vi ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh ngành, nghề có liên quan theo quyết định của Tòa án hoặc chuyển nhượng doanh nghiệp tư nhân cho cá nhân, tổ chức khác.


Cơ sở pháp lý

  • Luật Doanh nghiệp năm 2014;
  • Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Trên đây là toàn bộ hướng dẫn của chúng tôi về Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Nếu có thắc mắc cần được giải đáp hoặc mong muốn trợ giúp thêm về luật doanh nghiệp bạn có thể kết nối tới Tổng đài tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./.


Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

G

TƯ VẤN MIỄN PHÍ NGAY!

Scroll to Top