Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản không?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản không?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản không?
Vấn đề pháp lý về đất đai rất phức tạp, cần phải có sự tư vấn chi tiết từ những Luật sư có kiến thức, kinh nghiệm chuyên sâu. Nếu bạn cần hỗ trợ, hãy liên hệ tới tổng đài tư vấn luật đất đai của Luật Quang Huy để được giải đáp nhanh chóng nhất!

Nhiều người mặc dù nắm giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của nó về mặt vật chất cũng như về mặt pháp lý.

Vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản hay giấy tờ có giá không?

Bài viết dưới đây, Luật Quang Huy sẽ cung cấp đến bạn đầy đủ thông tin về vấn đề Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản không để bạn có thể tham khảo.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư xác nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp của cá nhân, tổ chức, không phải là tài sản.


Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản không?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản, cụ thể:

Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013 quy định: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Điều 115 Bộ luật này cũng giải thích quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.

Trong đó, thuộc tính nổi bật của tài sản là khi nó không tồn tại thì quyền sở hữu chấm dứt, đối với đất là quyền sử dụng.

Mặt khác, khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị mất như hỏng, cháy thì quyền sử dụng đất không bị chấm dứt. Giấy chứng nhận là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

Cần nắm rõ: quyền sử dụng đất là tài sản nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản không?
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản không?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là giấy tờ có giá không?

Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010 quy định: Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác.

Theo hướng dẫn tại Công văn 141/TANDTC-KHXX thì giấy tờ có giá bao gồm:

  • Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005;
  • Trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của pháp lệnh ngoại hối năm 2005;
  • Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của Luật quản lý công nợ năm 2009;
  • Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010);
  • Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp”.

Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không mang tính chất của giấy tờ có giá là xác nhận nghĩa vụ trả nợ mà bản chất của nó là chứng thư pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không nằm trong các loại giấy tờ có giá mà pháp luật hiện hành quy định.

Do vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ có giá.


Khi sổ đỏ mất có được báo công an không?

Căn cứ khoản 1 Điều 77 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cách gọi thông thường là sổ đỏ) bị mất thì hộ gia đình, cá nhân có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được báo công an mà phải báo với UBND cấp xã nơi có đất về việc bị mất Giấy chứng nhận, trừ trường hợp mất do thiên tai, hỏa hoạn.

Sau khi tiếp nhận khai báo của hộ gia đình, cá nhân thì UBND cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân lại sổ đỏ.


Cơ sở pháp lý

  • Luật Đất đai năm 2013;
  • Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010;
  • Nghị định 43/2014/NĐ-CP;
  • Công văn 141/TANDTC-KHXX.

Qua bài viết này chúng tôi mong rằng sẽ giúp bạn nắm được rõ về vấn đề giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản không.

Luật Quang Huy là công ty có kinh nghiệm không chỉ trong việc tư vấn pháp luật Đất đai mà còn có bề dày kinh nghiệm trong vai trò là hỗ trợ các thủ tục liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong cả nước.

Nếu còn điều gì chưa rõ, cần hỗ trợ, các bạn có thể liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật Đất đai trực tuyến của Luật Quang Huy qua HOTLINE 19006588.

Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
G

ĐẶT 1 CÂU HỎI MIỄN PHÍ!