Các trường hợp không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Các trường hợp không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Các trường hợp không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Vấn đề pháp lý về đất đai rất phức tạp, cần phải có sự tư vấn chi tiết từ những Luật sư có kiến thức, kinh nghiệm chuyên sâu. Nếu bạn cần hỗ trợ, hãy liên hệ tới tổng đài tư vấn luật đất đai của Luật Quang Huy để được giải đáp nhanh chóng nhất!

Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất, hay còn gọi là sổ đỏ, là một trong những giấy tờ pháp lý quan trọng nhất để chứng minh quyền sở hữu bất động sản mà mọi người dân đều mong muốn.

Tuy nhiên, hiện nay nhiều trường hợp không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vậy những trường hợp đó được pháp luật quy định ra sao?

Bài viết dưới đây, Luật Quang Huy hy vọng sẽ cung cấp đến bạn đầy đủ thông tin về vấn đề này để bạn có thể tham khảo.


Nội dung bài viết

7 trường hợp không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Các trường hợp này được quy định cụ thể tại Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ như sau:

Thứ nhất, tổ chức, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của Luật Đất đai

Cụ thể:

  • Tổ chức được giao quản lý công trình công cộng, gồm công trình đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thủy lợi, đê, đập; quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm;
  • Tổ chức kinh tế được giao quản lý diện tích đất để thực hiện dự án đầu tư theo hình thức xây dựng – chuyển giao (BT) và các hình thức khác theo quy định của pháp luật về đầu tư;
  • Tổ chức được giao quản lý đất có mặt nước của các sông và đất có mặt nước chuyên dùng;
  • Tổ chức được giao quản lý quỹ đất đã thu hồi theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thứ hai, người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn

Luật Đất đai năm 2013 có quy định trường hợp đất trích từ quỹ nông nghiệp của xã từ sau năm 1993 thì không được cấp sổ đỏ. Chỉ trừ trường hợp đất được trích từ quỹ nông nghiệp của xã trước ngày 15/10/1993, từ đó đến nay xã không thu hồi, có hộ khẩu thường trú tại địa phương, sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì đất mới có thể được cấp sổ đỏ (theo Điều 100,101 luật Đất đai năm 2013).

Đất công ích hay quỹ đất 5% là loại đất mà hầu hết mọi người dân đều biết đến, điều này cũng khá dễ hiểu vì đất sử dụng vào mục đích công ích là quỹ đất phổ biến tại các địa phương trong cả nước. Đất thuộc quỹ đất công ích thì người dân không được cấp Giấy chứng nhận mà chỉ được Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê với thời hạn sử dụng đất đối với mỗi lần thuê không quá 05 năm, nếu hết thời hạn thuê mà có nhu cầu sử dụng thì tiếp tục làm hợp đồng thuê (theo Điều 132 luật Đất đai 2013)

Thứ ba, người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế

Người thuê hoặc thuê lại đất về bản chất không phải là chủ sử dụng đất nên không được cấp sổ đỏ. Ngoại trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện và có yêu cầu (theo điểm e khoản 1 Điều 99 luật Đất đai năm 2013).

Các trường hợp không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Các trường hợp không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Thứ tư, người nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường, doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng

Giao khoán đất là hình thức thỏa thuận thực hiện công việc trong các hoạt động quản lý, sử dụng, sản xuất, bảo vệ giữa bên giao khoán và bên nhận khoán có thời hạn theo hợp đồng giao khoán đất.

Nhà nước giao khoán đất trong các nông trường, lâm trường cho các cá nhân và tổ chức sử dụng hoặc thuê lại. Về bản chất, đất nhận khoán vẫn thuộc quyền quản lý của Nhà nước và sẽ không được cấp giấy sổ đỏ cho cá nhân, tổ chức đang thuê.

Thứ năm, người đang sử dụng đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Luật Đất đai năm 2013 quy định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo Điều 100 của Luật này.

Những trường hợp không đủ điều kiện nêu trên sẽ không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Tuy nhiên, người sử dụng đất đã sử dụng ổn định lâu dài, không có vi phạm pháp luật đất đai, không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch của địa phương thì vẫn có thể làm đơn để yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 101 của luật Đất đai.

Thứ sáu, người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Người sử dụng đất dù đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, nhưng đất đó đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cũng không được cấp sổ đỏ. Tuy chưa có giấy tờ nhưng lại đủ điều kiện được cấp sổ đỏ, nên tùy trường hợp khi thu hồi đất, Nhà nước vẫn sẽ bồi thường cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của luật Đất đai năm 2013, Nhà nước quyết định thu hồi đất trong những trường hợp sau:

  • Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh.
  • Thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
  • Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.
  • Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

Thứ bảy, tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình công cộng gồm đường giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin; khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang, nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doanh

Các công trình công cộng này bao gồm đường giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin; khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang, nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doanh. Như vậy, quỹ đất được Nhà nước giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp xã để thực hiện xây dựng các công trình này thì sẽ không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (sổ đỏ) cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào.

Để xác định chính xác nhất trường hợp của bạn có thuộc các trường hợp không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không thì cách tốt nhất bạn hãy liên hệ đến Luật Quang Huy.

Tại đây, các Luật sư, chuyên viên pháp lý đã có nhiều năm kinh nghiệm về pháp luật Đất đai sẽ tư vấn hỗ trợ cho bạn một cách chính xác nhất mà không tốn nhiều thời gian.

Để được hỗ trợ nhanh nhất, bạn hãy liên hệ cho chúng tôi qua Tổng đài 19006588.


Các trường hợp có thể có hoặc không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Bên cạnh đó, tại Điều 29 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ cũng quy định một số trường hợp cá biệt có thể hoặc không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu vẫn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thực tế thường gọi là sổ đỏ) nếu thỏa mãn một trong các điều kiện sau:

Thứ nhất, thửa đất đang sử dụng được hình thành từ trước ngày văn bản quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu được tách thửa có hiệu lực thi hành mà diện tích thửa đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhưng có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Thứ hai, không được công chứng, chứng thực, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không được làm thủ tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối với trường hợp tự chia tách thửa đất đã đăng ký, đã được cấp Giấy chứng nhận thành hai hoặc nhiều thửa đất mà trong đó có ít nhất một thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Thứ ba, trường hợp người sử dụng đất xin tách thửa đất thành thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu đồng thời với việc xin được hợp thửa đất đó với thửa đất khác liền kề để tạo thành thửa đất mới có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu được tách thửa thì được phép tách thửa đồng thời với việc hợp thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho thửa đất mới.

Khi người dân biết được những trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận thì tự đối chiếu với thửa đất của mình đang sử dụng để tránh mất thời gian chuẩn bị hồ sơ, thủ tục hoặc nhờ người tư vấn về điều kiện cấp Giấy chứng nhận, điển hình là Luật Quang Huy.


Cơ sở pháp lý

  • Luật Đất đai năm 2013.
  • Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ.

Bài viết trên đây của chúng tôi là hướng dẫn cho bạn đọc về các trường hợp không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của luật Đất đai năm 2013.

Luật Quang Huy là không chỉ là công ty có kinh nghiệm trong việc tư vấn pháp luật Đất đai mà còn có bề dày kinh nghiệm trong vai trò là hỗ trợ các thủ tục liên quan đến sổ đỏ và là Luật sư biện hộ cho nhiều tranh chấp Đất đai trong cả nước.

Nếu bài viết chưa giải đáp được toàn bộ thắc mắc hay cần hỗ trợ, bạn hãy liên hệ trực tiếp tới Tổng đài tư vấn luật Đất đai trực tuyến qua Hotline 19006588 của Luật Quang Huy.

Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
G

ĐẶT 1 CÂU HỎI MIỄN PHÍ!