Nguyên tắc “Thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong quy định của Bộ luật tố tụng năm 2015

Nguyên tắc “ Thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong quy định của Bộ luật tố tụng năm 2015

      Tòa án nhân là cơ quan xét xử của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp. Vì vậy hoạt động xét xử của tòa án luôn mang tính quyền lực Nhà nước. Mỗi quyết định của Tòa án là ý chỉ của Nhà nước áp đặt nên các chủ thể có liên quan và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ. Vì vậy việc xét xử của Tòa án phải hết sức khách quan và tuân theo các nguyên tắc mà pháp luật quy định. Pháp luật Việt Nam quy định Tòa án khi xét xử phải tuân theo các nguyên tắc như: nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm,… nhưng nguyên tắc quan trọng nhất là nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập được quy định tại điều 23 BLTTHS năm 2015. Để tìm hiểu về nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập trong tố tụng Hình sự em xin chọn đề tài: “Nguyên tắc “Thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong quy định của Bộ luật tố tụng năm 2015” làm đề tài của bài tập học kì.

      Do trình độ và am hiểu cũng như lượng kiến thức có hạn của bản thân cho nên trong bài làm sẽ còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Em kính mong sẽ nhận được những ý kiến phê bình và nhận xét của các thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ bộ môn đã ân cần giảng dạy trong các tiết học, cũng như giờ thảo luận để giúp em hoàn thành bài tập này.


Danh mục từ viết tắt:

BLTTHS Bộ luật tố tụng Hình sự
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
HĐXX Hội đồng xét xử
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hiến pháp Việt Nam, CAND, Hà Nội, 2015.
  • Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hiến pháp Việt Nam, ĐHQG, Hà Nội, 2014.
  • Hiến pháp Việt Nam năm 2013.
  • Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
  • Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
  • Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Cơ sở lý luận của nguyên tắc

      Thứ  nhất, xuất phát từ nguyên tắc tổ chức, phân công quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây cũng chính là cơ sở lí luận của nguyên tắc độc lập xét xử của tòa án. Tính độc lập của tòa án là một trong những biểu hiện rõ nét của cơ chế phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt nam. Về lí luận cũng như thực tiễn cho thấy, hoạt động của bộ máy nhà nước sẽ mất đi những giá trị xã hội to lớn của nó nếu tính độc lập của thẩm phán không được đảm bảo. Sự vi phạm nguyên tắc này dẫn đến sự lạm dụng quyền lực, sự thoái hóa của quyền lực và xã hội dĩ nhiên sẽ gánh chịu những hậu quả to lớn của tình trạng này

      Thứ hai, xuất phát từ bản chất của hoạt động tư pháp mà tòa án thực hiện. Chính vì tòa án là cơ quan thực hiện hoạt động tư pháp- hoạt động nhân danh công lí và dựa vào công lí của tòa án phải xét xử như một người đứng giữa, trung lập, không phụ thuộc vào bên nào, chỉ xét xử độc lập và tuân theo pháp luật thì tòa án mới tồn tại đúng với bản chất của mình là một cơ quan bảo vệ công lí. Bản án quyết định của tòa án là văn bản kết thúc quá trình xét xử một vụ án dân sự. Do vậy, có thể nói bản án chính là tuyên ngôn công lí mà tòa án thay mặt nhà nước ban hành thông qua quá trình tố tụng tại tòa án. Hơn nữa, bản án đúng đắn sẽ mang lại sự công bằng trong xã hội, bảo vệ công lí và quyền con người. Chính vì lẽ đó mà bản án,  quyết định của tòa án cần phải đảm bảo chính xác tuyệt đối, đảm bảo đúng pháp luật. Thẩm phán và hội thẩm nhân dân là những người nhân danh nhà nước ra bản án, quyết định, đòi hỏi ở họ bản lĩnh vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao lương tâm nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức trong sáng để độc lập xét xử theo pháp luật

      Thứ ba, xuất phát từ chế độ dân chủ nhân dân ở nước ta. Việc xét xử của tòa án có hội thẩm nhân dân tham gia được Hiến pháp và pháp luật quy định, đó là một trong những nguyên tắc thể hiện rõ tư tưởng “nhà nước của dân, do dân, vì dân” và chế độ XHCN. Vì vậy, nguyên tắc xét xử độc lập bao hàm không chỉ thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Mục đích của chế độ xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia không đơn thuần là cùng thẩm phán xét xử cho xong vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng. Quan trọng hơn, pháp luật giao trọng trách cho hội thẩm nhân dân thay mặt nhân dân tham gia xét xử, giám sát, chế ước hạn chế tiêu cực trong hoạt động xét xử của tòa án bảo vệ công lí, bảo vệ pháp chế XHCN. Quy định như vậy giúp cho việc xét xử của tòa án được rõ ràng, chính xác, phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân

Nguyên tắc “Thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong quy định của Bộ luật tố tụng năm 2015

Nội dung và yêu cầu lý luận của nguyên tắc

Nội dung

      Nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập được quy định tại điều 23 BLTTHS năm 2015: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật”. Thẩm phán và hội thẩm nhân dân là thành viên của Hội đồng xét xử. Họ đại diện cho Tòa án và nhân danh nhà nước để xét xử. Như vậy, ta đã khẳng định được một điều: nguyên tắc “khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là một nguyên tắc đặc trưng mà pháp luật chỉ quy định cho Tòa án. Sự độc lập của Tòa án là một loại độc lập đặc thù, độc lập mang tính nhà nước, thay mặt nhà nước và nhân danh nhà nước. Nó khác hẳn sự độc lập của các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức xã hội khác là sự độc lập nhân danh chính bản thân mình. Vậy độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là thế nào?

      Độc lập theo cách hiểu chung nhất là các chủ thể tự mình tồn tại, hoạt động không lệ thuộc, nương tựa vào ai, vào bất cứ cái gì. Trong hoạt động của tòa án, tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thể hiện ở chỗ: Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải tự mình nghiên cứu hồ sơ, phải tìm hiểu, phân tích kỹ các chứng cứ, các tình tiết cụ thể của vụ án trong tất cả các mối liên hệ của nó và dựa vào niềm tin nội tâm để đánh giá chúng. Đồng thời tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải chú ý lắng nghe những ý kiến của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, phân tích, đánh giá, tổng hợp chúng, sau đó căn cứ vào các quy định của pháp luật mà ra bản án hoặc các quyết định khác. Việc xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cũng vậy, nó mang tính độc lập, nhưng không có ý nghĩa là biệt lập, đối lập với các hiện tượng tố tụng cũng như các hiện tượng pháp lý khác. Một trong những cơ sở quan trọng và gần gũi nhất của sự độc lập này là những quy định pháp luật của nhà nước.

      “Chỉ tuân theo pháp luật”, đó là một cụm từ chỉ phạm vi được hạn định cho Hội đồng xét xử. Nghĩa là ngoài pháp luật ra họ không được tuân theo một cái gì hoặc một ai khác. Họ không phải chịu bất kỳ một sự can thiệp nào từ bên ngoài. Tuân theo pháp luật là quyền của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Pháp luật trao cho họ quyền họ phải được sử dụng đầy đủ, thực hiện tốt quyền đó. Không ai, bằng cách này hay cách khác được xâm phạm đền quyền của họ. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân là phải tôn trọng quyền độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. “Chỉ tuân theo pháp luật” vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Là quyền nó đảm bảo cho sự độc lập xét xử của họ. Là nghĩa vụ nó đặt ra yêu cầu buộc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải luôn trau dồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như bản lĩnh nghề nghiệp, tránh những tác động tiêu cực xấu từ bên ngoài ảnh hưởng đến cũng như do kiến thức pháp luật còn hạn chế mà gây ra những hậu quả khó lường.

Yêu cầu pháp lý

      Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập với yếu tố bên ngoài: Theo phương diện độc lập với các yếu tố bên ngoài thì xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập với Viện Kiểm sát với Tòa án các cấp, độc lập với cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác. Tuy nhiên hoạt động xét xử của tòa án được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sử giám sát tối cao của Quốc hội.

      Trong quá trình xét xử, tòa án không chỉ độc lập với các cơ quan Nhà nước mà còn độc lập với các bên đương sự, người đại diện của các đương sự và các chủ thể có liên quan trong quá trình xét xử. Ngoài ra, thẩm phán và hội thẩm còn độc lập với cơ quan báo chí và dư luận xã hội.

      Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập với nhau: Trong giai đoạn xét xử thẩm phán và hội thẩm có quyền nghiên cứu hồ sơ trước khi phiên tòa để biết được nội dung cũng như những vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Mối quan hệ này mang tính hỗ trợ lẫn nhau nhưng vấn phải có sự độc lập với nhau trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra, đánh gia các tài liệu có liên quan khác.

      Tại phiên tòa tính độc lập giữa thẩm phán và hội thẩm càng được thể hiện rõ. Tất cả các thành viên của HĐXX đều có quyền hỏi đương sự về các vấn đề có liên quan. Sự độc lập giữa thẩm phán và hội thẩm được thể hiện rõ nhất trong quá trình nghi án, sự độc lập này không cho phép thành viên này được áp đặt ý kiến của mình nên thành viên khác trong HĐXX.


Ý nghĩa của nguyên tắc đối với việc thực hiện chức năng của Tòa án

      Nguyên tắc Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án. Có thể khái quát ý nghĩa của nguyên tắc thành 3 nhóm như sau:

      Ý nghĩa chính trị xã hội: Nguyên tắc xác định vai trò, vị trí cơ quan Tòa án trong hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng. Chỉ có tòa án mới có quyền xét xử và khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Không một cá nhân, cơ quan nào được xen vào hoạt động xét xử của Tòa án phải đảm bảo sự độc lập trên cơ sở chỉ tuân theo pháp luật không tuân theo bất cứ sự chỉ đạo nào khác ngoài pháp luật, trái pháp luật. “Quan chức” cũng như “thường dân” khi phạm tội đều bị đưa ra xét xử bởi Tòa án trên cơ sở những quy định của pháp luật mà không có đặc ân nào. Tư pháp độc lập là một trong những yếu tố để đảm bảo công bằng xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, pháp luật sẽ được chấp hành nghiêm chỉnh. “Độc lập xét cử có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo cho môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh vì khi đó các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ yên tâm rằng những tranh chấp đầu tư và hợp đồng kinh doanh của họ sẽ được bảo vệ bởi một cơ chế tài phán xét xử độc lập, vô tư khách quan. Các quyền cơ bản của mỗi con người trong xã hội cũng sẽ được bảo đảm khi người cầm cân nảy mực thực sự độc lập xét xử những hành vi vi phạm các quyền đó. Độc lập xét xử cũng là một điều quan trọng để đảm bảo sự thành công cảu việc phòng chống tham nhũng bởi lẽ những kẻ tham nhũng sẽ không có cơ hội được bao che bởi sự can thiệp hoặc tác động vào quá trình xét xử của Tòa án. Hoạt động xét xử không phải là hoạt động của một cá nhân mà là hoạt động của tập thể, không chỉ là hoạt động của quan tòa mà còn có sự tham gia giám sát, tham gia xét xử của nhân dân thông qua những người đại diện cho họ, đó là Hội thẩm. Nguyên tắc gián tiếp thể hiện bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước do dân làm chủ, nhân dân tham gia giám sát các hoạt động của nhà nước, trong đó có hoạt động xét xử.

      Ý nghĩa pháp lý: Nguyên tắc là cơ sở pháp lý để Thẩm phán và Hội thẩm tiến hành hoạt động xét xử khách quan, đúng pháp luật. Đây cũng là cơ sở đảm bảo Hiến pháp và pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ có ý nghĩa và có tác dụng khi nguyên tắc “độc lập xét cử” được tuân thủ một cách triệt để. Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử vừa là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của Thẩm phán và Hội thẩm.

      Ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật bảo đảm việc xét xử khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nguyên tắc này loại trừ các sự tác động không cần thiết, thậm chí tiêu cực của cơ quan, tổ chức khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm đảm bảo sự bình đẳng, độc lập giữa các thành viên của Hội đồng xét xử. Tóm lại, “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự. Nó đòi hỏi trong hoạt động xét xử, Thẩm phán và hội thẩm phải tự mình đưa ra các quyết định để giải quyết vụ án, không lệ thuộc và bất cứ yếu tố nào khác. Hoạt động xét xử phải đảm bảo đúng pháp luật vầ trình tự, thủ tục cũng như các quyết định đưa ra phải chính xác và có căn cứ pháp lý. Không một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được phép can thiệp và hoạt động xét xử của Tòa án. Độc lập xét xử được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của đa phần các nước trên thế giới. Điều đó một lần nữa khẳng định giá trị của nguyên tắc này trong hoạt động xét xử.


Những bất cập trong thực tiễn của việc thực hiện  nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và giải pháp khắc phục

Bất cập trong thực hiện nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập

      Hiện tại, có rất nhiều hạn chế, bất cập trong việc đảm bảo tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động xét xử của Tòa án thiếu khách quan. Những bất cập này tồn tại từ các quy định về tổ chức thực hiện hoạt động xét xử đến nhận thức của những người tiến hành tố tụng.

      Trên thực tế, mặc dù nguyên tắc về tính độc lập của Tòa án và các Thẩm phán, Hội thẩm đã được ghi nhận chính thức trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật khác, song nó chưa thực sự được tôn trọng và tuân thủ. Hơn nữa, quá trình xét xử của các Tòa án chưa thật sự coi trọng nguyên tắc tranh tụng mà vẫn nặng về thẩm vấn, xét hỏi, tạo ra sự bất bình đẳng giữa các bên tham gia tố tụng, ảnh hưởng tới hoạt động xét xử của Tòa án.

      Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại các nhân tố bên ngoài tác động đến việc xét xử độc lập của Tòa án nói chung và Thẩm phán và Hội thẩm nói riêng, đó là: Theo quy định của pháp luật hiện hành, kinh phí hoạt động của hệ thống Tòa án ở nước ta còn phụ thuộc chặt chẽ vào các cơ quan Nhà nước khác, đồng thời phụ thuộc vào Tòa án cấp trên. Tình trạng này khiến cho các Tòa án khó tránh khỏi sự tác động của các cơ quan Nhà nước khác cũng như cho các Tòa án cấp dưới duy trì sự độc lập xét xử với Tòa án cấp trên.

      Đồng thời, Hiến pháp 2013 kế thừa quy định của các bản Hiến pháp trước đây cũng quy định Quốc hội có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với Chánh án TANDTC; Quốc hội có quyền giám sát, xem xét các báo cáo của TANDTC về hoạt động xét xử của hệ thống Tòa án, có quyền hủy bỏ các văn bản của TANDTC nếu trái Hiến pháp, luật hoặc Nghị quyết của Quốc hội, cho ý kiến, đánh giá về quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, quyết định phân bổ ngân sách cho hệ thống Tòa án… Như vậy, chưa có sự thừa nhận một cách đầy đủ về địa vị pháp lý cũng như về thẩm quyền, tính độc lập của Tòa án trong hệ thống các cơ quan Nhà nước.

      Mặt khác, Hiến pháp cũng không quy định mối quan hệ hành chính giữa Tòa án các cấp, mối quan hệ giữa Tòa án các cấp là mối quan hệ tố tụng, như vậy có nghĩa là không có Tòa án cấp trên và không có Tòa án cấp dưới mà chỉ có Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm và các Tòa án thực hiện chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm; các đơn vị Tòa án này thực hiện chức năng xét xử độc lập với nhau. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại tình trạng Tòa án cấp trên quản lý Tòa án cấp dưới cả về tổ chức, tài chính và chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ.

      Hơn nữa, trong hoạt động xét xử hiện nay, Thẩm phán và Hội thẩm còn lệ thuộc vào kết quả điều tra, những thông tin, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Trong nhiều trường hợp, Hội đồng xét xử phụ thuộc vào kết quả điểu tra có trong hồ sơ vụ án, không quan tâm tới những ý kiến trình bày tại phiên tòa; do đó, quyết định của Hội đồng xét xử còn mang tính áp đặt dẫn tới tình trạng xét xử oan sai, trái pháp luật.

Giải pháp khắc phục

      Để nâng cao tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm, nâng cao hoạt động xét xử, trước hết cần phải đảm bảo cơ chế thực hiện quyền xét xử của Tòa án các cấp thống nhất trong cơ chế tổng thể thực hiện quyền lực Nhà nước. Yêu cầu tiên quyết là phải đảm bảo cho Tòa án độc lập, chỉ tuân theo pháp luật trong việc thực hiện chức năng xét xử. Tòa án có độc lập thì Thẩm phán, Hội thẩm mới có thể độc lập.

      Để đáp ứng yêu cầu này, cần phải giải quyết nhiều mối quan hệ giữa Tòa án và các cơ quan quyền lực Nhà nước khác; Tòa án với các cơ quan tiến hành tố tụng; mối quan hệ giữa các cấp Tòa án, giữa lãnh đạo Tòa án với các Thẩm phán, Hội thẩm…Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện mối quan hệ lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xét xử của Tòa án và trong các mối quan hệ đối với các cơ quan Nhà nước khác theo tinh thần của Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.

      Thứ nhất, các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, giữ gìn đạo đức, lương tâm nghề nghiệp. Các Thẩm phán phải được đào tạo chuẩn và thường xuyên được cập nhật những kiến thức mới về tin học, ngoại ngữ, pháp luật quốc tế. Đồng thời, có tinh thần dũng cảm, dám đấu tranh cho sự công bằng, bảo vệ lẽ phải. Chỉ khi Thẩm phán có một trình độ chuyên môn cao với cái tâm trong sáng, tôn trọng sự công bằng, thì họ mới không bị chi phối bởi những suy nghĩ lệch lạc hoặc những tác động bên ngoài mang tính chất vụ lợi cá nhân. Khi đó, Thẩm phán sẽ có niềm tin nội tâm vững chắc để xét xử đúng pháp luật. Cùng với Thẩm phán, các Hội thẩm nhân dân cũng phải được bồi dưỡng tập huấn nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng xét xử để đủ năng lực khi xét xử.

      Thứ hai, xây dựng và củng cố các cơ quan, tổ chức, bổ trợ tư pháp vững mạnh. Thực tiễn xét xử cho thấy, hoạt động của các cơ quan bổ trợ tư pháp như luật sư, công chứng, giám định, hộ tịch… tuy không trực tiếp quyết định các bản án, nhưng sự khách quan, kịp thời, chính xác của các hoạt động bổ trợ tư pháp sẽ góp phần bảo đảm chất lượng xét xử của Tòa án. Nếu hoạt động bổ trợ tư pháp kém hiệu quả, sẽ dẫn đến sự sai lệch trong kết quả điều tra, truy tố và khi xét xử, Thẩm phán rất dễ sai lầm, đưa ra phán quyết không đúng pháp luật. Vì vậy, trong tiến trình cải cách tư pháp, phải hoàn thiện pháp luật về luật sư, công chứng, giám định, hộ tịch theo hướng công khai, minh bạch, đơn giản và thuận tiện cho người dân.

      Thứ ba, tăng cường cơ sở vật chất, chế độ chính sách đối với Thẩm phán, cán bộ Tòa án. Nhà nước cần ưu tiên đầu tư xây dựng trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho các Tòa án; cần có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với Thẩm phán, cán bộ Tòa án để họ yên tâm công tác và tăng khả năng tự vệ phòng, chống tiêu cực trong hoạt động xét xử. Mặt khác, Nhà nước cần quy định chế độ bảo đảm an ninh đối cơ quan Tòa án, Thẩm phán và gia đình họ trong trường hợp thi hành công vụ.

      Thứ tư, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, không chồng chéo, mâu thuẫn với nhau; các văn bản hướng dẫn thi hành và giải thích luật phải kịp thời. Có như vậy mới tạo điều kiện cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử có cơ sở pháp lý vững chắc và chỉ tuân theo pháp luật.

      Tóm lại, ta có thể thấy hoạt động xét xử của tòa án là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước để tuyên một bản án đối với các đối tượng tham gia xét xử. Bản án đó có thể gây bất lợi hoặc có lợi đối với các chủ thể có liên quan, vì vậy việc xét xử của tòa án phải hoàn toàn khách quan và minh bạch. Việc xét xử của tòa án không được phụ thuộc vào bất kỳ một yếu tố nào bên ngoài. Việc bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài sẽ làm cho quyết định của tòa án bị sai lệch và thiếu khách quan làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác, lợi ích của Nhà nước. Vì vậy, việc thực hiện nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và vô cùng quan trọng và cần thiết, Nhà nước cần có những thiết chế cần thiết để tòa án thực hiện nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của những chủ thể liên quan, lợi ích Nhà nước, lợi ích xã hội.


       Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi cung cấp đến bạn về vấn đề: Nguyên tắc “ hẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong quy định của Bộ luật tố tụng năm 2015. Để được tư vấn cụ thể hơn bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy.

       Trân trọng ./.


Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

phone-call