Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa và việc hoàn thiện quy định này

quy định của bộ luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

      Quyền bào chữa là một phương tiện pháp lý cần thiết mà pháp luật tố tụng hình sự trao cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Tuy nhiên, trên thực tế hầu như không có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nào có thể tự bào chữa cho mình, do đó, pháp luật cũng cho phép họ được nhờ người khác bào chữa. Những người bào chữa đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tố tụng hình sự bởi nhờ có họ, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được bảo vệ tốt hơn; cũng vì điều này mà pháp luật trao cho họ những quyền và nghĩa vụ nhất định để họ thực hiện tốt việc bào chữa của mình. Qua bài phân tích sau đây tổng đài tư vấn Luật Quang Huy chúng tôi xin giải quyết về vấn đề:“Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa và việc hoàn thiện quy định này”


Danh mục tài liệu tham khảo

  • Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
  • Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2016.

Những vấn đề lý luận chung về người bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Khái niệm và phân loại người bào chữa

       Khái niệm người bào chữa.

      Người bào chữa là người được các cơ quan tiến hành tố tụng chứng nhận, tham gia tố tụng với vai trò đưa ra những tình tiết để xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

      Phân loại người bào chữa.

      Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, người bào chữa có thể là luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân.

      Luật sư: là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đó theo quy định của pháp luật. Để trở được công nhận là một luật sư thì cá nhân phải đáp ứng các điều kiện như: là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư, đã được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một đoàn luật sư.(Điều 10 và điều 11 luật Luật sư năm 2006)

       Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: là cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải là người đã thành niên, không bị tâm thần, có quốc tịch Việt Nam, cư trú tại Việt Nam trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch, người Việt nam ở nước ngoài.

      Bào chữa viên nhân dân: là người được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình. Khi tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, luật sự, đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bào chữa viên nhân dân đều có các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định chung cho người bào chữa.

quy định của bộ luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
quy định của bộ luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định của BLTTHS năm 2003

      Quyền của người bào chữa

      Khoản 1 Điều 58 quy định về thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa: “Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra”. Như vậy, theo quy định của pháp luật thì người bào chữa được tham gia tố tụng từ rất sớm: từ khi cí quyết định tạm giữ. Quy định này giúp người bào chữa có cơ hội thu thập được những chứng cứ quan trọng trong việc gỡ tội cho bị can khi người bào chữa được tiếp cận vụ án ngay từ đầu.

      Khoản 2 Điều 58 quy định cụ thể hơn về quyền của người bào chữa, theo đó người bào chữa có những quyền sau:

      Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người được bào chữa.

      Việc người bào chữa được quyền có mặt trong các hoạt động điều tra có ý nghĩa quan trọng. Khi có mặt người bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ ổn định hơn về mặt tâm lý, việc được hỏi người bị tạm giữ, bị can sẽ giúp người bào chữa chủ động hơn trong việc nắm bắt các tình tiết của vụ án, từ đó chuẩn bị được lời bào chữa của mình trước tòa. Bên cạnh đó, sự có mặt của người bào chữa trong quá trình lấy lời khai của người bị tạm giữ, bị can còn là sự giám sát hoạt động của những điều tra viên, khiến họ phải tuân thủ pháp luật. Những hoạt động như ép cung, mớm cung, dùng nhục hình hoặc các thủ đoạn khác làm sai lệch nội dung, tính chất của vụ án sẽ không thể diễn ra nếu như có mặt người bào chữa ở đó. Điều này góp phần đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong quá trình điều tra. Bên cạnh đó, việc được xem các biên bản về hoạt động tố tụng của mình hay những quyết định tố tụng liên quan đến người được bào chữa cũng là một cách mà pháp luật trao cho người bào chữa quyền kiểm tra các quyết định đó.

      Đề nghị cơ quan điều tra  báo trước về thời gian địa điểm hỏi cung bị can để có măt khi hỏi cung bị can.

      Như đã nói ở trên, sự có mặt của người bào chữa trong quá trình hỏi cung bị can mang ý nghĩa rất to lớn, và để thực hiện được điều này, pháp luật quy định cho người bào chữa quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can. Cơ quan điều tra cần phải thông báo kịp thời cho người bào chữa về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để người bào chữa sắp xếp công việc, tham gia vào cuộc hỏi cung.

      Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của BLTTHS 2003.

      Người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ theo luật định và xét thấy việc những người này tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể làm ảnh hưởng không tốt đến quyền và lợi ích hợp pháp của người mả mình bào chữa.

      Theo quy định của BLTTHS năm 2003, nếu có căn cứ thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 42 của luật này, thì người bào chữa có thể đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. Những trường hợp đó đều có thể dẫn đến sự không vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án hình sự và làm ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi của người mà họ bào chữa.

      Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của họ hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác.

      Đây là một quyền quan trọng của người bào chữa, bởi để thực hiện tốt việc bào chữa của mình, người bào chữa cần phải có những thông tin liên quan đến vụ án; từ đó có thể đưa ra được những chứng cứ có lợi nhằm gỡ tội cho người mà mình bào chữa.

      Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu.

      Để có thể thực hiện được việc gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ hình phạt cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì người bào chữa cần phải được pháp luật trao cho quyền đưa ra những tài liệu, đồ vật, yêu cầu theo hướng có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người bào chữa cũng có thể đưa ra những yêu cầu như triệu tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định nếu xét thấy điều đó là cần thiết và có lợi cho người được bào chữa. Cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng quyền này của người bào chữa.

      Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam.

      Việc gặp gỡ người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam là một nhu cầu thiết thực của người bào chữa. Việc gặp gỡ, trao đổi, tiếp xúc người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam sẽ giúp người bào chữa nắm được các tình tiết của vụ án, các đặc điểm nhân và diễn biến tâm lý, tâm tư, nguyện vọng của người được bào chữa. Trên cơ sở đó, người bào chữa có thể thu thập được những tình tiết gỡ tội, giảm nhẹ tội cho những người này. Bên cạnh đó, việc gặp gỡ, trao đổi của người bào chữa có thể tác động đến tâm lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo làm cho họ có thái độ thành khẩn hơn để được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

      Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật.

      Qua việc đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án, người bào chữa nắm được những nội dung, tình tiết của vụ án, nắm được những bằng chứng buộc tội cũng như gỡ tội với người mà mình bào chữa, từ đó đưa ra được lời bào chữa, tranh luận tại phiên tòa. Bên cạnh đó, việc đọc, ghi chép hồ sơ vụ án cũng tạo điều kiện cho người bào chữa phát hiện được những sai lầm, thiếu sót, vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, trên cơ sở đó đưa ra những yêu cầu, khiếu nại cần thiết với cơ quan có thẩm quyền.

      Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa.

      Vai trò của người bào chữa được thể hiện rõ nhất tại phiên tòa xét xử. Tại đây, người bào chữa đưa ra tài liệu, chứng cứ có lợi cho bị cáo, trình bày quan điểm, lập luận của mình,  để tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, từ đó chứng minh bị cáo vô tội hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

      Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

      Khi nhận thấy những quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có sai sót, trái pháp luật; đặc biệt những sai sót đó lại có ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi của người mà họ bào chữa, người bào chữa có thể khiếu nại những quyết định, hành vi tố tụng đó đến cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét và giải quyết những khiếu nại đó.

      Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 BLTTHS 2003.

      Đây là một quyền độc lập của người bào chữa, người bào chữa kháng cáo không phụ thuộc vào ý chí của bị cáo cũng như đại diện hợp pháp của họ. Bởi những người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất đều không có khả năng tự bảo vệ được quyền lợi của mình; những người đại diện hợp pháp của họ cũng không có hiểu biết nhiều về pháp luật, do đó việc quy định cho người bào chữa quyền kháng cáo trong trường hợp này là hợp lý. Kháng cáo của người bào chữa phải  theo hướng có lợi cho bị cáo.

      Nghĩa vụ của người bào chữa.

      Nghĩa vụ của người bào chữa được quy định tại khoản 3 Điều 58 BLTTHS 2003, bao gồm:

      Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Để có thể chứng minh người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ, người bào chữa cần sử dụng mọi biện, tuy nhiên những biện pháp này không được vi phạm pháp luật mà phải do pháp luật quy định.

      Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Với tư cách là người bào chữa, có kiến thức về pháp luật, người bào chữa có nghĩa vụ giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

      Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng. Khi nhận làm người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì giữa họ đã tồn tại với nhau một hợp đồng, nếu không có lý do chính đáng thì người bào chữa phải thực hiện hết công việc của mình theo những gì đã thỏa thuận.

      Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật. Đây không chỉ là nghĩa vụ của người bào chữa mà còn là nghĩa vụ chung của tất cả những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Với tư cách là người bào chữa, chứng minh bị can, bị cáo là vô tội hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự cho họ, tuy nhiên những người bào chữa vẫn phải tôn trọng sự thật khách quan và tôn trọng pháp luật.

      Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Để có thể thực hiện việc bào chữa, người bào chữa cần có mặt tại phiên tòa để nghe bản cáo trạng cũng như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, từ đó mới có thể đưa ra được những luận điểm gỡ tội cho thân chủ của mình.

      Không đựợc tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Thực trạng áp dụng quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa và phương hướng hoàn thiện

Thực trạng áp dụng quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

      Thực tiễn tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trong những năm qua cho thấy việc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã tạo điều kiện thuận lợi để bị can, bị cáo thực hiện quyền này. Trong hầu hết các vụ án hình sự, người bào chữa, chủ yếu là luật sư khi tham gia tranh tụng đã thuyết phục được HĐXX bằng những luận điểm, lý lẽ chặt chẽ, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ. Tính từ thời điểm tháng 5 năm 2009 đến tháng 4 năm 2015, số lượng vụ việc luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức trơng các vụ án và các vụ việc cung cấp dịch vụ pháp lý khác cho các cá nhân, tổ chức là: 67.414 vụ án hình sự (trong đó có 30.902 vụ án hình sự được mời , 36.512 vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng).

      Đối với những trường hợp bào chữa chỉ định, Tòa án đã yêu cầu đoàn luật sư cử người đại bào chữa theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy hiệu quả của hoạt động này không cao, bởi những luật sư có kinh nghiệm sẽ không tham gia những vụ bào chữa chỉ định, mà thường dành cho những luật sư trẻ, không có kình nghiệm. Bên cạnh đó, vì là chỉ định nên tinh thần trách nhiệm của các luật sư không cao, làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của việc bào chữa.

      Trường hợp người đại diện hợp pháp đứng ra làm người bào chữa cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần, thể chất cũng không đạt được hiệu quả. Bởi những người này thường có hiều biết hạn chế về pháp luật, cũng như không có kinh nghiệm trong việc bào chữa do đó, họ thường chỉ có thể đưa ra những tình tiết về nhân thân có tính giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, mà chưa phân tích được những tình tiết có lợi cho họ.

      Bên cạnh đó, thực tế cũng cho thấy một số người tiến hành tố tụng chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng quan trọng như việc xử lý nghiêm minh người phạm tội. Do đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử họ thường chú ý tới khía cạnh không bỏ lọt tội phạm hơn là khía cạnh không làm oan người vô tội, do đó xem việc bào chữa chỉ mang tính thủ tục. Chính điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, một số trường hợp còn tạo ra những án oan sai, làm mất lòng tin của nhân dân vào cơ quan nhà nước.

Phương hướng hoàn thiện luật pháp về người bào chữa.

Hoàn thiện về thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa

      Theo khoản 1 Điều 58 BLTTHS năm 2003, người bào chữa được tham gia tố tụng từ rất sớm (ngay từ khi khởi tố bị can, khi có quyết định tạm giữ). Tuy nhiên trong một số trường hợp, nhất là đối với Cơ quan điều tra đã nêu những lý do để từ chối không cho người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, thậm chí vụ án đã có kết luận điều tra, không thuộc trường hợp phải giữ bí mật điều tra đối với tội đặc biệt xâm phạm an ninh quốc gia nhưng vẫn không cho người bào chữa tham gia; Rất ít trường hợp Cơ quan điều tra đồng ý để người bào chữa có mặt khi hỏi cung bị can. Mặt khác, có nhiều trường hợp cơ quan điều tra không giải thích cho người bị tạm giữc biết về quyền được mời người bào chữa ngay từ thời điểm mình bị tạm giữ do đó, quyền này của họ không được đảm bảo. Do đó,với những quy định về thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, cần phải có những chế tài cụ thể để xử phạt những người cố tình vi phạm những quy định này. Pháp luật quy định cho người bào chữa được tham ra tố tụng từ sớm, quy định cho người bị tạm giữ, bị can có quyền được nhờ người khác bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng quyền này. Tuy nhiên, pháp luật lại chưa có chế tài cụ thể để bảo vệ việc những quy định này vì vậy trên thực tế có nhiều trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là cơ quan điều tra không tôn trọng và tạo điều kiện để người bị tạm giữ, bị can thực hiện quyền này và chế tài cũng chỉ dừng ở mức “rút kinh nghiệm”.

Hoàn thiện quy định về những người có quyền bào chữa

      Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, những người sau có quyền bào chữa: luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân. Thực tiễn hoạt động tố tụng cho thấy ngoài luật sư thì sự tham gia của những người bào chữa khác rất hạn chế, hoặc là có tham gia thì hiệu quả bào chữa cũng không cao. Vì những người này có hiều biết pháp luật không cao, không được đào tạo chuyên sâu những kỹ năng hành nghề bào chữa cũng như không có kỹ năng và kinh nghiệm tranh tụng một vụ án hình sự. Ví dụ như người đại diện hợp pháp khi bào chữa thì với hiểu biết pháp luật hạn chế chỉ cùng lắm đưa ra những tình tiết nhân thân nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo mà thôi. Hay với những Bào chữa viên nhân dân, chưa có văn bản pháp luật nào quy định người như thế nào thì được coi là bào chữa viên nhân dân, các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương cũng chưa có hướng dẫn nên mỗi nơi thực hiện khác nhau. Tuy nhiên, căn cứ vào hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02-10-2004 về quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự thì một người được coi là bào chữa viên nhân dân khi người đó được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình; mặc dù vậy sự tham ra của bào chữa viên nhân dân rất hạn chế.

      Mặc dù trên thực tế hoạt động bào chữa của người đại diện hợp pháp cho bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân không đạt hiệu quả cao những cũng không thể bỏ quy định này, bởi hiện nay, số lượng luật sư của chúng ta còn hạn chế: tính đến cuối năm 2016, trên cả nước đã thành lập 63 Đoàn luật sư với hơn 10.000 người cùng với hơn 3.500 người tập sự hành nghề luật sư. Bên cạnh số lượng luật sư so với dân số còn rất thấp, đội ngũ luật sư lại phát triển mất cân đối giữa khu vực thành thị và nông thôn, miền núi và đồng bằng, trung du và vùng sâu, vùng xa có điều kiện kinh tế khó khăn. Số lượng luật sư chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, nhất là TP.Hà Nội và TP.HCM, còn tại nhiều địa phương, số lượng luật sư không đủ để đáp ứng nhu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng gia tăng của người dân, ngay cả trong việc thực hiện bào chữa trong các vụ án bắt buộc có sự tham gia của luật sư.

      Thực trạng trên đang đặt ra yêu cầu cần phải mở rộng phạm vi những người có quyền tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn. Bởi pháp luật đã quy định không chỉ có luật sư là người bào chữa mà cho phép cả người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân dân được tham gia. Có thể thấy, đây là quy định “mở” đầy tính nhân văn nhằm tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không có điều kiện mời luật sư bào chữa thì có thể nhờ anh em, người thân… có năng lực, trình độ pháp lý, hiểu biết nhất định để giúp mình bào chữa trước Tòa.

Hoàn thiện quy định về quyền của người bào chữa

      Khoản 2 Điều 58 quy định về quyền của người bào chữa, tuy nhiên trong đó vẫn có những quyền chỉ mang tính hình thức, không được thực hiện trên thực tế.

      Trước hết là quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác. Sự có mặt của người bào chữa trong quá trình lấy lời khai của người bị tạm giữ, hỏi cung bị can hoặc các hoạt động điều tra khác có vai trò hết sức quan trọng: nó vừa giúp người bào chữa có cơ hội thu thập được những thông tin, tài liệu giúp thực hiện tốt việc bào chữa; vừa có thể giám sát hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra để những người này không có cơ hội thực hiên những hành vi trái pháp luật để buộc tội. Tuy nhiên, thực tế tố tụng chó thấy có không ít trường hợp Điều tra viên hạn chế sự có mặt của người bào chữa trong các hoạt động điều tra, kể cả hỏi cung và lấy lời khai, gián tiếp cản trở người bào chữa thực hiện các quyền của mình. Do đó, để hạn chế điều này, pháp luật cần quy định với những trường hợp không thuộc bí mật an ninh quốc gia, bí mật quân sự, thì khi hỏi cung phải có sự có mặt của người bào chữa; trường hợp người bào chữa không có mặt thì biên bản hỏi cung không được công nhận; có quyền phản đối những câu hỏi mang tính ép cung, mớm cung của điều tra viên; có quyền giải thích cho người bị tạm giữ, bị can, bị  cáo biết về quyền không trả lời những câu hỏi do điều tra viên hỏi.

       Thứ hai là với quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của họ hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác. Trên thực tế, những chứng cứ để gỡ tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc giảm nhẹn trách nhiệm hình sự cho họ rất đa dạng, nếu chỉ được thu thập từ những nguồn theo quy định của BLTTHS năm 2003 sẽ không đầy đủ. Vì vậy, pháp luật cần mở rộng thêm cho họ phạm vi thu thập tài liệu, đồ vật có liên quan đến việc bào chữa.

      Bên cạnh đó, cần quy địn thêm cho người bào chữa có quyền tiếp xúc và trao đổi riêng với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong những trường hợp cần thiết. quy đinh này sẽ giúp hạn chế tính hình thức của việc có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can.

      Ngoài ra, cần sửa lại quy định của pháp luật về trường hợp người bào chữa vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại Điều 190 BLTTHS năm 2003: “Người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên tòa. Người bào chữa có thể gửi trước bản bào chữa cho Tòa án. Nếu người bào chữa vắng mặt Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử.” Theo đó, người bào chữa có thể gửi trước bản bào chữa cho Tòa án, nếu người bào chữa vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử. Đây là một quy định không hợp lý, bởi phải có mặt tại phiên tòa, nghe lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát thì người bào chữa mới có thể đưa ra được những luận điểm phản bác lại lời luận tội; nếu chỉ dựa vào những tài liệu, đồ vật, thông tin mà mình thu thập trước đó để viết sẵn lời bào chữa thì việc bào chữa sẽ không đạt hiệu quả. Vì vậy, cần sửa đổi điều luật theo hướng không cho phép người bào chữa vắng mặt tại phiên tòa, nếu người bào chữa vắng mặt vì lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa.

Những điểm mới về quyền và nghĩa vụ người bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

      Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được quy định cụ thể tại Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015, theo đó, cả quyền và nghĩa vụ của người bào chữa đều có những sự thay đổi nhất định, đặc biệt là BLTTHS năm 2015 đã mở rộng thêm quyền cho người bào chữa:

      Thứ nhất là quyền được gặp, hỏi người bị buộc tội. Đây là một quyền hoàn toàn mới của người bào chữa, tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt hơn việc bào chữa của mình khi được cung cấp thông tin từ chính người bị buộc tội.

      Thứ hai là quyền hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc. Đây là quyền đi đôi với quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, hỏi cung bị can. Nếu BLTTHS năm 2003 chỉ cho phép người bào chữa có mặt thì BLTTHS năm 2015 còn cho phép người bào chữa được hỏi hười bị bắt, người bị tạm giữ, bị can.

      Thứ ba, BLTTHS năm 2015 đã quy định về quyền có mặt của người bào chữa trong trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác. Quy định này vừa giúp cho người bào chữa có được những thông tin cần thiết cho việc bào chữa, vừa tạo điều kiện cho người bào chữa giám sát các hoạt động điều tra, tránh tình trạng vi phạm pháp luật.

      Thứ tư là quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu. BLTTHS năm 2015 đã không giới hạn phạm vi thu thập chứng tài liệu, đồ vật, yêu cầu như trong quy định tại BLTTHS năm 2003. Sự thay đổi này là hợp lý bởi chứng cứ chững minh bị can, bị cáo vô tội hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự cho họ tồn tại rất đa dạng, vì vậy người bào chữa cũng cần không bị giới hạn pahmj vi thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật.

      Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 còn bổ sung thêm người được quyền bào chữa là Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý; quy định rõ hơn về bào chữa viên nhân dân. Việc quy định theo hướng mở rộng đối tượng được quyền bào chữa này nhằm giảm bớt gánh nặng cho đội ngũ luật sư, bảo hiện nay số lượng luật sư ở nước ta không nhiều, nếu chỉ quy định cho luật sư có quyền bào chữa, những người khác không có thì sẽ không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn.

      Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không chỉ là một nguyên tắc quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự Được ghi nhận tại ĐIều 11 BLTTHS 2003 mà còn là một quy tắc hiến định, được ghi nhận trong Hiến pháp (Điều 31, Điều 103 Hiến pháp 2103). Vì vậy, pháp luật cần hoàn thiện hơn những quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa để họ có thể thay người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện tốt quyền bào chữa của mình.


    Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề:quy định của bộ luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

      Trân trọng./.


 

 

 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

phone-call