Nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được đảm bảo trong tố tụng hình sự”

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử

     Trong xu hướng xây dựng nền tư pháp hiện đại, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế thì việc bảo vệ tối đa quyền con người và quyền công dân luôn được đặc biệt chú trọng. Với tinh thần ấy, nhằm nâng cao chất lượng của quá trình tố tụng, xác định sự thật vụ án, đảm bảo tốt nhất yếu tố công bằng, khách quan trong xét xử và bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân, trong Hiến pháp năm 2013 tại Khoản 5 Điều 103 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Hiến pháp là đạo luật gốc, văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất do vậy quy định nguyên tắc tranh tụng trong Hiến pháp là tiền đề để xây dựng và hoàn thiện các quy định về bảo đảm tính tranh tụng trong các văn bản pháp luật tố tụng nói chung.

     Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ: “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Nghị quyết 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012 tiếp tục khẳng định: “Kiểm sát viên phải chủ động, tích cực tranh luận, đối đáp tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự… Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo các Tòa án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên tòa”. Yêu cầu tăng cường tranh tụng được nêu trong Nghị quyết 08-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị không nên hiểu là yêu cầu thay đổi hệ thống tố tụng (từ hệ thống tố tụng thẩm vấn sang hệ thống hệ thống tố tụng tranh tụng), mà cần phải đựơc hiểu là yêu cầu cần phải tăng cường khả năng tranh luận dân chủ giữa các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Không hiếm trường hợp khi đưa ra xét xử, các bên tranh tụng bày tỏ quan điểm không rõ ràng về chứng cứ chứng minh, Tòa án buộc phải xét hỏi để làm rõ, bảo đảm công bằng cho các bên đương sự. Do vậy, vẫn cần kết hợp giữa mô hình tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng.

      Và để làm rõ hơn về nguyên tắc tranh tụng, trong phần trình bày của mình, em xin lựa chọn đề tài: Nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được đảm bảo trong tố tụng hình sự”.


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam – NXB Công an nhân dân
  • Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Lý luận chung về nguyên tắc tranh tụng

      Khái niệm

      Các nhà nghiên cứu lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới chứng minh rằng tư tưởng về tranh tụng bắt nguồn từ ý tưởng của nhà triết học cổ đại nổi tiếng người Hy Lạp Plato. Ông cho rằng “bằng cách nói chuyện (đối thoại) về một điều gì đó trong một thời gian dài, một vài dấu hiệu hoặc hiểu biết sẽ xuất hiện và cả hai bên sẽ cùng nhìn ra sự thật”. Ý tưởng này của Plato được các luật gia Hy Lạp cổ đại phát triển và xây dựng thành là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự ở nhà nước Hy Lạp cổ đại. Sau đó, nguyên tắc này được đưa vào áp dụng ở La Mã và các quốc gia cổ đại khác ở Châu Âu với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”.

      Đến nay, chúng ta có thể hiểu khái quát như sau: Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi các đương sự thực hiện quyền khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án. Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì quá trình tranh tụng này sẽ bao gồm toàn bộ các giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử,xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo nghĩa hẹp, tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh giữa các bên đương sự với nhau về chứng cứ, yêu cầu và phản đối yêu cầu của mỗi bên để từ đó nhằm chứng minh cho đối phương và Tòa án rằng yêu cầu và phản đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

      Nội dung

      Cụm từ “tranh tụng” được xuất hiện đầu tiên tại văn kiện của Đảng, cụ thể là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2001 của Bộ Chính trị. Nghị quyết có xác định quan điểm chỉ đạo hoạt động đối với Tòa án nhân dân là: “Khi xét xử các Tòa án phải bảo đảm cho mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có tính thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”. Thể chế hóa quan điểm chỉ đạo nêu trên của Đảng, Tố tụng Hình sự, Tố tụng Dân sự, và Tố tụng hành chính đã sửa đổi bổ sung về các nội dung “tranh tụng” theo định hướng mà Nghị quyết số 08 của Bộ chính trị đã xác định.

      Như vậy, chúng ta có thể hiểu nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo có nội dung: Hoạt động xét xử phải bảo đảm tranh tụng giữa Kiểm sát viên, bị hại, nguyên đơn dân sự với bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự, giữa các đương sự với nhau và những người này có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu, đưa ra các luận điểm, luận cứ, luận chứng của mình, bình đẳng trong việc đối đáp, tranh luận, chứng minh bác bỏ quan điểm lẫn nhau. Các hoạt động tranh tụng diễn ra trên tinh thần trách nhiệm, trên cơ sở chứng cứ khách quan và quy định của pháp luật, các bên tôn trọng lẫn nhau. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật để họ thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ trong việc tranh tụng. Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh tụng và những chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa, đảm bảo cho việc xét xử là khách quan, minh bạch, công bằng và dựa trên công lý.

      Ý nghĩa

      Nguyên tắc tranh tụng trong Hiến pháp là tiền đề để xây dựng và hoàn thiện các quy định về bảo đảm tranh tụng trong các văn bản pháp luật tố tụng. Hiến pháp là đạo luật gốc, văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất. Do vậy, khi Hiến pháp quy định về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng như vậy thì những quy định trong bộ luật, luật, các văn bản dưới luật chưa rõ ràng, không thống nhất phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, tạo sự thống nhất trong việc vận dụng pháp luật, đặc biệt đòi hỏi cần xây dựng quy định cụ thể về phương thức bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử.

      Bên cạnh đó, nguyên tắc này còn mang ý nghĩa quan trọng: Đảm bảo hoạt động tố tụng được diễn ra khách quan, minh bạch, công bằng, quyết định của tòa án được đưa ra trên cơ sở những chứng cứ, sự việc có thật, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Ghi nhận quyền lợi của những người tham gia vào tố tụng có quyền trình bày quan điểm và tranh luận lại những quan điểm mà các bên đưa ra, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên; Với bị can, bị cáo thì được quyền bào chữa cho mình trước Hội đồng xét xử; Đảm bảo quyền con người quyền công dân được tôn trọng, quyền bình đẳng của những người tham gia tố tụng với nhau và với cơ quan nhà nước trong tranh tụng. Nguyên tắc này giúp cho việc xét xử khách quan, công bằng, nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án với các việc vụ xảy ra trong xã hội; Nguyên tắc tranh tụng giúp đảm bảo sự thật vụ án thông qua tranh tụng tại các giai đoạn trước xét xử cũng như giai đoạn xét xử. Bởi vì tranh tụng làm cho các yếu tố của vụ án như chứng cứ, lời khai,… của các bên rõ ràng, đồng thời cũng tìm ra điểm mâu thuẫn của chứng cứ. Điều này là căn cứ để tìm ra sự thật dưới những cách nhìn khác nhau đem lại cái nhìn toàn diện về vụ án.


Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự

      Theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015, nguyên tắc tranh tụng được thể như sau:

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử

       Điều 26. Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

       “Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

       Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ luật này quy định. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.

       Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.

       Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

       Như vậy, đây là lần đầu tiên nguyên tắc tranh tụng được thể hiện trong BLTTHS, từ đó tranh tụng cũng đã được xuất hiện trong một loạt các quy định khác nhau của Bộ luật, với mục đích tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự, nhằm bảo đảm quyền con người, chống oan sai, nhanh chóng xác định sự thật khách quan của vụ án. Với nội dung của Điều 26 BLTTHS năm 2015, tranh tụng đã được thể hiện qua một số vấn đề sau:

Thứ nhấtvề thời điểm xuất hiện tranh tụng

       Trong tố tụng hình sự, việc xác định sự thật khách quan của vụ án được trải qua các giai đoạn khác nhau, trong mỗi giai đoạn có mục đích và nhiệm vụ khác nhau do các chủ thể khác nhau thực hiện. Theo Điều 26 BLTTHS 2015 thì phạm vi của việc tranh tụng được xác định cả trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bị buộc tội, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đều được quyền tham gia vào quá trình tranh tụng.

Thứ hai, về chủ thể tranh tụng

       Bản chất của hoạt động tranh tụng là sự tranh luận qua lại giữa hai bên buộc tội và bào chữa để tìm ra sự thật của vụ án. Chính vì vậy, tranh tụng chỉ đặt ra giữa bên buộc tội gồm: Cơ quan điều tra trực tiếp nhất là Điều tra viên và Viện kiểm sát, trực tiếp nhất là Kiểm sát viên và bên bào chữa gồm bị can, bị cáo, người bào chữa. Tòa án được trao cho nhiệm vụ là trọng tài trong quá trình xác định việc đánh giá chứng cứ của cả hai bên buộc tội và gỡ tội.

Thứ ba, về nội dung của hoạt động tranh tụng

       định quyền thu thập, đánh giá chứng cứ cho các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng buộc tội là chủ yếu như Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát thì Điều 26 BLTTHS cũng đã lần đầu tiên quy định bị can, bị cáo, người bào chữa có quyền đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ do cơ quan tố tụng thu thập và yêu cầu Tòa án thu thập, bổ sung chứng cứ nếu đã yêu cầu ở giai đoạn điều tra, truy tố mà không được chấp nhận. Chính vì vậy, trong tranh tụng không thể chỉ cho phép một chủ thể được đơn phương, độc quyền trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ. Điều này là sự bảo đảm cho quá trình tranh tụng được bình đẳng và hiệu quả cao hơn.

        Bên cạnh việc quy định quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ của các bên trong quan hệ tranh tụng, Điều 26 còn quy định các chứng cứ do Viện kiểm sát đưa ra Tòa án để xét xử phải được quy định đầy đủ, mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và các tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, điều này cũng cho thấy, hoạt động tranh tụng công khai tại Phiên tòa là sự thể hiện tập trung nhất, cơ bản nhất của nguyên tắc tranh tụng. Bản chất của quá trình tranh tụng này là việc các bên quá quá trình tranh tụng đưa ra những trình bày, tranh luận để làm rõ các chứng cứ buộc tội và gỡ tội tại phiên tòa.

       Ngoài ra nguyên tắc tranh tụng tại Điều 26 BLTTHS còn có nội dung rất quan trọng khác đó là “Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Việc tranh tụng chỉ là hình thức nếu kết quả tranh tụng không được thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án. Mặc dù không hoàn toàn dựa vào kết quả tranh tụng như mô hình tố tụng tranh tụng, nhưng việc quy định bản án, quyết định của toàn án phải dựa vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng là một trong những điểm mới nổi bật trong quy định về nguyên tắc tranh tụng.


Một số điểm mới

Thứ nhất, quy định đầy đủ các quyền và cơ chế đảm bảo các quyền của người bị buộc tội, nhất là quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc nhờ người khác bào chữa.

       Đối với nhóm người buộc tội (người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo), đã bổ sung một nhóm các quyền mới nhằm giúp họ nắm bắt kịp thời chứng cứ buộc tội làm cơ sở cho việc chuẩn bị bào chữa.

       Để bảo đảm quyền tự bào chữa, quyền nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa của người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan trong việc bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội, BLTTHS năm 2015 có rất nhiều sự sửa đổi, bổ sung quan trọng, cụ thể: Mở rộng chủ thể được đảm bảo quyền bào chữa, theo đó, ngoài 03 chủ thể đã được bảo đảm quyền bào chữa: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo), BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt cũng được đảm bảo quyền bào chữa (Điều 58); Mở rộng và chính thức ghi nhận địa vị pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý là 1 trong các loại người bào chữa, theo đó, BLTTHS năm 2015, Người bào chữa có thể là: (1) Luật sư; (2) Người đại diện của người bị buộc tội; (3) Bào chữa viên nhân dân; và (4) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

       Mở rộng diện người bào chữa theo chỉ định, theo đó cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mà BLHS quy định mức cao nhất là 20 năm tù, thay vì mức cao nhất là tử hình như quy định của BLTTHS năm 2003; Bổ sung người thân thích của người bị buộc tội có quyền mời người bào chữa, thay vì chỉ có người bị buộc tội và người đại diện hợp pháp của họ có quyền mời người bào chữa (Điều 75);

Thứ hai, quy định đầy đủ các quyền và cơ chế bảo đảm các quyền của người bào chữa, tạo sự bình đẳng và các điều kiện thuận lợi cho người bào chữa, tham gia các hoạt động tố tụng hình sự

       Để bảo đảm tranh tụng dân chủ, cũng như đảm bảo quyền bào chữa cho bị can, bị cáo, BLTTHS bổ sung quy định cho người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ thay vì chỉ có quyền thu thập tài liệu, đồ vật như hiện nay; đồng thời, quy định người bào chữa có quyền kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá (Điều 73);

       BLTTHS năm 2015 quy định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng sớm hơn (kể từ khi có người bị bắt) thay vì tham gia từ khi có quyết định tạm giữ như hiện nay (Điều 74). Đồng thời, ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, luật sư có quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố (Điều 83);

       Nhằm bảo đảm tính minh bạch của pháp luật, tránh sự nhận thức không chính xác rằng người người bào chữa tham gia tố tụng hoàn toàn phụ thuộc vào sự chấp nhận hay không của cơ quan TTHS, BLTTHS năm 2015 đã quy định chuyển đổi thủ tục “cấp giấy chứng nhận người bào chữa” bằng thủ tục “đăng ký bào chữa”, đồng thời rút ngắn thời gian đăng ký bào chữa từ 03 ngày xuống còn 24h nhằm tạo điều kiện cho người bào chữa nhanh chóng tiếp cận vào quá trình giải quyết vụ án. Văn bản thông báo người bào chữa (hình thức pháp lý công nhận đủ điều kiện đăng ký bào chữa) có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tố tụng, thay vì chỉ có giá trị trong từng giai đoạn tố tụng như trước đây;

       Nhằm tạo điều kiện cho người bào chữa được gặp bị can, bị cáo trong trại tạm giam, tiếp cận ngay từ đầy với các chứng cứ buộc tội, gỡ tội trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa, BLTTHS năm 2015 đã quy định rõ trình tự, thủ tục để người bào chữa được gặp bị can, bị cáo trong trại tạm giam, cụ thể: Để gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bào chữa phải xuất trình văn bản thông báo người bào chữa, Thẻ luật sư hoặc Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân. Cơ quan quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam phải phổ biến nội quy, quy chế của cơ sở giam giữ và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh. Trường hợp phát hiện người bào chữa vi phạm quy định về việc gặp thì phải dừng ngay việc gặp và lập biên bản, báo cáo người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật (Điều 80). Bổ sung quy định về trách của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc bố trí thời gian, địa điểm để người bào chữa đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra khi người bào chữa có yêu cầu (Điều 82); Bổ sung và quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo trước cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng để người bào chữa tham gia theo quy định của pháp luật (Điều 79);

       BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định về cách thức người bào chữa thu thập chứng cứ, theo đó để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa (Khoản 2 Điều 88). Đồng thời, BLTTHS năm 2015 tiếp tục quy định: “Tùy từng giai đoạn tố tụng, khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa, người bào chữa phải kịp thời giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ án. (Khoản 2 Điều 81).

Thứ ba, quy định đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và các trình tự, thủ tục trong giai đoạn điều tra, truy tố để bảo đảm bảo việc buộc tội, tranh tụng tại phiên tòa

       BLTTHS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao vị trí, vai trò của các cơ quan THTT, như Viện kiểm sát, kiểm sát viên thực hành quyền công tố ngay từ khi cơ quan điều tra tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục (Điều 145). Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục (Điều 165)…

       Trong giai đoạn truy tố, BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể nhiệm vụ của Viện kiểm sát thi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố như: yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết. Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố (Điều 236). Đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cơ quan điều tra thực hiện đầy đủ yêu cầu nêu trong quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung của Viện kiểm sát (Điều 245)…

Thứ tư, quy định rõ trách nhiệm của Tòa án và các thủ tục tố tụng tại phiên tòa để bảo đảm việc tranh tụng trong xét xử

       Với chủ trương Tòa án là Trung tâm, xét xử là trọng tâm, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung nhiều quy định để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, cụ thể: BLTTHS năm 2015 quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa; về việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; đề nghị của bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (Điều 279).

       Bên cạnh đó, nhằm khắc phục tình trạng chất lượng tranh tụng còn hạn chế ở một số phiên tòa có đông bị cáo, có nhiều luật sư tham gia, nhưng đối với kiểm sát viên BLTTHS năm 2003 chỉ cho phép tối đa 02 kiểm sát viên tham gia. BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định này theo hướng: Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát viên (Khoản 1 Điều 289); Đặc biệt, nhằm cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng không chỉ thể hiện ở phần tranh luận mà còn được thể hiện ngay trong phần xét hỏi, BLTTHS năm 2015 đã nhập thủ tục xét hỏi tại phiên tòa với thủ tục tranh luận tại phiên tòa thành “thủ tục tranh tụng tại phiên tòa”. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự xét hỏi, theo đó, Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý (Khoản 1 Điều 307)…

       Để có cơ sở tranh luận dân chủ tại phiên tòa, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định về nội dung luận tội của Kiểm sát viên phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.

       Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng.

       Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật (Điều 321) và nhấn mạnh trách nhiệm của Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác tại Phiên tòa. Đồng thời bổ sung trách nhiệm của Hội đồng xét xử là “lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án) (Khoản 4 Điều 322)…

Hoạt động thực tiễn

       Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội cho thấy, trong năm 2018, Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội đã thụ lý 36.472 vụ án; giải quyết 30.001 vụ, đạt tỷ lệ 82,25%. So với năm 2017, số thụ lý tăng 5.695 vụ =18,5%, số giải quyết tăng 2.246 vụ = 8,09%. về chất lượng xét xử: Án bị hủy trong năm 2018 là 112 vụ giảm 81 vụ so với nám 2017; hòa giải thành 14.091 vụ, chiếm 65,15% số án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động đã giải quyết. Nhiều vụ án hình sự trọng điểm, nhạy cảm, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm, đặc biệt là các vụ án tham những đã được Tòa án khẩn trương nghiên cứu hồ sơ để đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh đáp ứng yêu cầu chính trị của địa phương, được dư luận đồng tình ủng hộ. Năm 2018 cũng là năm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết nhiều vụ án lớn như vụ Hà Văn Thắm ở ngân hàng Ocean bank, hay vụ Đinh La Thăng của tập đoàn PVN, vụ Trịnh Xuân Thanh,… Điểm đáng chú ý trong phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm là phiên tòa có bục khai báo thay cho vành móng ngựa. Phiên tòa không có vành móng ngựa không phải đặc quyền cho bị cáo Thăng hay bị cáo Thanh. Bắt đầu từ ngày 1/1/2018, theo quy định của Thông tư 01/2017/TT-TANDTC, bục khai báo sẽ thay thế cho vành móng ngựa trong các phiên tòa. Đây một bước tiến bộ trong tổ chức hình thức của một phiên tòa xét xử các vụ án hình sự. Việc bỏ vành móng ngựa trong tất cả các phòng xử án cho thấy nguyên tắc “suy đoán vô tội” được tôn trọng. Tức là bất kỳ người bị buộc tội nào đều có quyền suy đoán là không phạm tội, cho đến khi hành vi phạm tội của người đó được tòa tuyên bố. Việc bỏ vành móng ngựa cũng mang đến hình ảnh của phiên tòa đảm bảo tính khách quan, bình đẳng, tôn trọng quyền con người.

       Tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, chánh án Nguyễn Hữu Chính đã có chia sẻ về các vị trí trong phòng xét xử, vị trí của hội đồng xét xử, viện kiểm sát hay luật sư: Trước năm 2015, chúng ta thực hiện theo luật tố tụng cũ, đến nay thực hiện tinh thần theo hiến pháp quy định là thẩm phán và hội đồng xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, do vậy là cao nhất, còn tất cả người tham gia tố tụng là luật sư hay bị cáo đều phải ở dưới bục của hội đồng xét xử. tuy nhiên qua thực tiễn và lý luận, kiểm sát viên là người phải đối đáp lại ý kiến tranh luận của bị cáo và luật sư, do vậy xét cho cùng là kiểm sát viên phải ngang hàng với luật sư và bị cáo. Còn tòa vai trò là trọng tài ở bên trên, không nghiêng về bất cứ ai dù là kiểm sát viên hay bị cáo. Do vậy mục đích chính là hội đồng xét xử nghe ý kiến, sự tranh luận của luận của luật sư và sự đối đáp của viện kiểm sát để từ đó làm trọng tài. Như vậy mới đúng khoa học và đảm bảo sự công bằng, hội đồng xét xử ra phán quyết trên cơ sở lời khai của bị cáo, bào chữa của luật sư, đối đáp của viện kiểm sát, trả lời của nhân chứng và những người liên quan thì mới là khách quan, tránh trường hợp oan sai cho bị cáo.

       Tranh tụng không chỉ ở hình thức mà còn liên quan đến cả quá trình xét xử. Hội đồng xét xử và các thẩm phán đã thực hiện các quy định mới của luật, theo đó, có nhiều chức năng mới được bổ sung cho hội đồng. Ví dụ, triệu tập điều tra viên và trong tương lai có thể triệu tập cả kiểm sát viên và thẩm phán ra tòa. Hội đồng xét xử có quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tha bị cáo ngay tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có thẩm quyền ký quyết định, kiến nghị xử lý cán bộ và kiến nghị các biện pháp xử lý kinh tế. Ví dụ, vụ OceanBank, hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có nhiều kiến nghị, trong đó có kiến nghị Chính phủ đánh giá lại vấn đề mua ngân hàng “0 đồng”. Đặc biệt là có một số vụ án như vụ án Trịnh Xuân Thanh, vụ án Ngân hàng xây dựng, vụ án Hứa Thị Phấn, vụ án Đinh La Thăng… các vụ án này thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, trong phần luận tội thì do tòa án cho phép mở rộng phạm vi để tranh tụng, cho nên thời gian không bị giới hạn, có những phiên tòa kéo dài đến 7, 8h tối thậm chí đến tận 10h đêm. Điều này chứng tỏ rằng, việc tranh luận và đối đáp giữa kiểm sát viên với luật sư đã tạo một điều kiện, một không gian, một thời gian phù hợp cho việc tranh tụng.

       Như vậy, tranh tụng được coi là khâu đột phá trong hoạt động xét xử, chất lượng tranh tụng sẽ góp phần nâng cao chất lượng xét xử, chống oan sai và bảo vệ các quyền con người cơ bản của người bị buộc tội. Đây là lần đầu tiên nguyên tắc tranh tụng được thể hiện trong BLTTHS, từ đó tranh tụng cũng đã được xuất hiện trong một loạt các quy định khác nhau của Bộ luật, với mục đích tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự, nhằm bảo đảm quyền con người, chống oan sai, nhanh chóng xác định sự thật khách quan của vụ án.

       Với ý nghĩa là lần đầu tiên quy định tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS, cho thấy quyết tâm của Đảng và Nhà nước tiếp tục thực hiện tiến trình cải cách tư pháp với mục tiêu “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.


      Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo trong tố tụng hình sự. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

      Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

phone-call