Nguyên tắc suy đoán vô tội của bộ luật tố tụng hình sự 2015

Nguyên tắc suy đoán của Bộ luật tố tụng hình sự 2015

      Việc đảm bảo các nguyên tắc trong BLTTHS  thì có thể giải quyết tích cực các vấn đề này trước hết nằm trong việc nhìn nhận lại tính chất và đặc trưng TTHS, cũng như sự hoàn chỉnh và đầy đủ của các quy định pháp luật mà trung tâm là pháp luật TTHS. Cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam đã được phát động từ năm 2005 qua Nghị quyết số 49- NQ/TW năm 2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2019 và đã gặt hái được những kết quả nhất định về nhận thức và tổ chức thực hiện.  Tuy nhiên, những chủ trương đúng đắn của chính sách hình sự và cải cách tư pháp hình sự cho đến thực tiễn TTHS vẫn còn một khoảng cách lớn. Một trong những nguyên tắc đã được cụ thể hóa theo tinh thần Hiến pháp 2013 là nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định trong BLTTHS 2015. Qua bài phân tích sau đây tổng đài tư vấn Luật Quang Huy chúng tôi xin giải quyết về vấn đề: “Nguyên tắc suy đoán vô tội của bộ luật tố tụng hình sự 2015”


Danh mục tài liệu tham khảo

  • Hiến pháp 2013
  • Bộ luật tố tụng hình sự 2003
  • Bộ luật tố tụng hình sự 2015
  • Bình luận khoa học hiến pháp 2013
  • Bàn về Nguyên tắc “ suy đoán vô tội”/ Hoàng Thị Huyền Trang, tạp chí Nghề Luật số 04/2014
  •  Bảo đảm thực hiện Nguyên tắc “ suy đoán vô tội”/ trong TTHS/ Huỳnh Trung Trực/ Tạp chí Luật sư Việt Nam số 7/2015

Cơ sở lý luận

      Thực chất, việc bảo đảm quyền con người trong TTHS được coi là trục xoay của toàn bộ hoạt động TTHS.: Vừa làm thế nào để trên con đường đi tìm sự thật và công lý thì quyền  của tất cả nhưng ai có liên quan đều phải được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ.

   Là nguyên tắc lần đầu tiên được quy định trong TTHS Việt Nam, BLTTHS 2003 quy định về tinh thần của nguyên tắc này tại Điều 9 quy định về không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật

      “ Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”.  Thực sự tư duy lập pháp này thể hiện bước tiến vượt bậc về quyền con người

      Bởi thực sự việc ghi nhận nguyên tắc này sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc, nó sẽ có giá trị bắt buộc đối với các cơ quan THTT và có trách nhiệm hơn trong hoạt động chứng minh tội phạm, bên cạnh đó, khi có những vụ án rơi vào trường hợp chứng cứ không đầy đủ, thiếu tính vững chắc thì người THTT sẽ dễ dang hơn trong việc đưa ra kết luận về kết quả của vụ án theo nguyên tắc “ suy đoán vô tội”

       Trước yêu cầu bảo vệ quyền con người và xu thế hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ. Suy đoán vô tội hay giả định vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản, được áp dụng rộng rãi trong nền tư pháp nhiều nước. Nguồn gốc của nguyên tắc này là có từ thời La Mã cổ đại khi vào thế kỷ thứ VI, Hoàng đế La Mã Justinian đã ban hành một bản tóm lược Luật la mã, trong đó có quy định về nguyên tắc chung liên quan đến chứng minh thuộc về bên tố tụng , bên khẳng định mà không  phải bên chủ định. Sau đó, nguyên tắc này được áp dụng trong quá trình xét xử hình sự và bắt đầu khẳng định nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên buộc tội và một hệ quả tất yếu là bị cáo luôn được coi là vô tội.. Tuy nhiên, suy đoán vô tội chỉ được chính thức được xem như một nguyên tắc mang tính công cụ pháp luật bởi luật gia người Pháp Jean Lemonie nhằm ủng hộ cho một cách suy luận mang tính pháp lý rằng, hầu hết mọi người không phải là tội phạm.

    Ngày nay, nguyên tắc suy đoán vô tội được nhiều quốc gia coi đó  là nguyên tắc của TTHS trong đó có Việt Nam, bới đó được đánh giá là thành tựu của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền  con người. Nguyên tắc này được công nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về Quyền chính trị, dân sự năm 1966 của Liên hợp quốc. Nguyên tắc suy đoán vô tội được Việt Nam cam kết thực hiện thông qua sự kiện Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1982.

     Xuất phát từ việc đảm bảo nguyên tắc”Suy đoán vô tội” là sự thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc tôn trọng các giá trị cao quý của con người về nhân phẩm, danh dự trong xã hội và coi một người có đủ tư cách công dân với các quyền, nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định, khi người đó chưa bị Tòa án  kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật.

      Nguyên tắc suy đoán vô tội không phải từ trên trời rơi xuống mà là thành quả của nền văn minh, là kết quả đạt được sau những cuộc đấu tranh nhọc nhằn đòi công lý cho những người bị kết tội nhầm, bị xử oan. Nguyên tắc suy đoán vô tội là cách gọi quen thuộc trong giới những người làm nghề luật nói chung. Đó là sự thừa nhận chính thức của xã hội, thông qua các quy tắc pháp lý, về việc một người bị tình nghi phạm tội được coi là ngoại phạm chừng nào các bằng chứng rành rành chống lại người này chưa được cơ quan có thẩm quyền lôi ra ánh sáng. Tình nghi chưa chắc là tội phạm được hưởng sự suy đoán ấy, người bị tình nghi không cần phải dốc sức chứng minh rằng mình vô tội, thậm chí có quyền im lặng. Chính những người được xã hội giao chức năng phát hiện, nhận dạng tội phạm, đặc biệt là cơ quan điều tra và cơ quan công tố phải nỗ lực làm cho công luận, tòa án tin vào những cáo buộc của mình bằng cách trưng ra những chứng cứ buộc tội thuyết phục mà họ thu thập được.

Nguyên tắc suy đoán của Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Nguyên tắc suy đoán của Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Cơ sở pháp lý của nguyên tắc suy đoán vô tội

      Với tư cách là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhât, là những quy phạm pháp luật cơ bản và quan trọng nhất để các văn bản quy phạm pháp luật khác cụ thể hóa.

      Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định :

      “ Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”

      Điều 13 BLTTHS 2015 quy định về nguyên tắc suy đoán vô tội:

      “ Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”

    Như vậy,khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội. và nó đã thể hiện ở từng điều luật quy định ở giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử phải thể hiện được tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội này.

    Nguyên tắc suy đoán  vô tội đặt ra những đòi hỏi cụ thể hơn mà tố tụng hình sự phải đảm bảo đó là:

      Bị can, bị cáo phải được coi là vô tội cho tới khi lỗi của bị can, bị cáo đó được chứng minh:

      Tức là” nếu lỗi không được chứng minh, đồng nghĩa với sự vô tội được chứng minh”. Yêu  cầu này đã tạo ra sự an toàn pháp lý cho người bị buộc tội trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự. Yêu cầu đặt ra trong nguyên  tắc này hoàn toàn phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về quyền dân sự và chính trị mà theo đó, mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân, không một ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ; người bị buộc tội là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật.

      Việc truy tố và xét xử một người phải được tiến hành theo một trình tự thủ tục do pháp luật quy định

      Phải bảo đảm xác định và xem xét các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm rõ các căn cứ xác định có tội và những căn cứ xác dịnh vô tội, các tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

      Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về người buộc tội.

      Bị can, bị cáo không có trách nhiệm chứng minh sự vô tội của mình. Các cơ quan tiến hành tố tụng không được bắt buộc bị can, bị cáo thực hiện trách nhiệm đó dưới bất kỳ hình thức nào.Tuy nhiên,  quy định này chưa thực sự chính xác khi nói “ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng”, bởi đòi hỏi của nguyenn tắc này là trách nhiệm đó phải và chỉ thuộc về cơ quan buộc tội, người buộc tội.

      Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình và các hình thức trái pháp luật khác trong các quy trình thu nhập chứng cứ và thực hiện các hoạt động tố tụng khác.  Tuy nhiê, quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình mà chưa chỉ rõ trong những trường hợp nào của quá trình tố tụng và không xác định việc nghiêm cấm các hành vi tố tụng bất hợp pháp khác.

      Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án, không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội

      Bản án kết tội phải dưạ trên các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toàn, chứng minh bị cáo có tội. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác nếu ra nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.

      Bị can, bị cáo có quyền không trả lời các câu hỏi của cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng. Nội dung này bắt nguồn từ quyền không buộc phải chứng minh của bị can, bị cáo và trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan và người buộc tội.

      Mọi hoài nghi về lỗi của bị can, bị cáo cần được giải thích theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo. Trong thực tiễn, khi có sự không rõ ràng trong việc xác định căn cứ của trách nhiệm hình sự, các tình tiết liên quan đến lỗi của bị can, bị cáo mà cả quá trình tố tụng và các nỗ lực của cơ quan tiến hành tố tụng đã không làm rõ, dẫn đến hoài nghi, có mâu thuẫn giữa các hướng giải quyết mà chính là các cơ quan đó không thể khắc phục được. Những hoài nghi  đó nhất thiết phải được giải quyết theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo. Đây là một nội dung quan trọng và trong tâm của nguyên tắc suy đoán vô tội, phản ánh bản chất nhân đạo của TTHS dân chủ và pháp quyền

     Từ quy định của Hiến pháp 2013 đã tạo ra sự an toàn pháp lý cho công dân trong cuộc sống và hoạt động của họ. Yêu cầu đặt ra trong nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về quyền dân sự chính trị năm 1966 mà theo đó, mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân, không ai bị bắt hoặc bị gia giữ vô cớ; người bị buộc là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật.

      Có thể thấy nội dung của nguyên tắc này là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế nhưng nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệuq uan trọng nhất của chế độ pháp quyền, theo đó thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số một cho viẹc bảo vệ quyền con người chống lại sự truy bức tùy tiện. Công  ước nói trên của Liên hợp quốc khẳng định: “ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền tự do đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định”.

Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội

Khái niệm suy đoán vô tội

      Nguyên tắc suy đoán có tội và nguyên tắc suy đoán vô tội đều là những nguyên tắc của tố tụng hình sự. Nhưng nguyên tắc suy đoán có tội là nguyên tắc của tố tụng thẩm vấn (inquisitorial), còn nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc điển hình của tố tụng tranh tụng (adversarial).

      Nguyên tắc “ suy đoán vô tội” là nguyên tắc mà “ người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, “người bị bắt,tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điêu tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư  hoặc người khác bào chữa”. Quy định này bảo đảm rằng người bị khởi tồ, điều tra, truy tố, xét xử hình sự được coi là không có tội cho đến khi hành vi phạm tội của họ được các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, khi những người này tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo thì các chủ thể tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện các quyền hiến định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

Nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội

      Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà luật học song tựu trung lại thì gồm 3 nội dung cơ bản sau:

      Người bị tình nghi, bị can, bị cáo được coi là không có tội cho đến khi có bản án có hiệu lực của tòa án kết tội đói với người đó

      Nghĩa vụ chứng minh một người có tội thuộc về bên trách nhiệm buộc tội. Người bị tình nghi, bị can, bị cáo  có quyên chứng minh mình vô tội nhưng không phải là nghĩa vụ.

      Khi có những nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ xuất hiện thì những nghi ngờ này được hiểu và giải thích theo hướng có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo .

      Nội dung này là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế nhưng nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất  chế độ pháp quyền, theo đó thủ tục công khai, minh bạchlà đòi hỏi một số cho việc bảo vệ quyền con người chống lại sự truy bức tùy tiện. Công ước của Liên hợp quốc khẳng định: “ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền tự do là có lý do và theo đúng nhưng thủ tục mà pháp luật quy định”

      Xác định rõ đối tượng của nguyên tắc suy đoán vô tội là” ngươi bị buộc tội” mà theo quy định của BLTTHS 2015 , người bị buộc tội bao gồm : người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

      Khẳng định rõ ràng “ người bị buộc tội được coi là người không có tội” để cơ quan tiến hành tố tụng, ngươi tiến hành tố tụng và cả xã hội nhận thức rõ những người bị áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự phải là người không có tội và họ được đảm bảo các quyền lợi của người không có tội trong suốt qua trinh điều tra, truy tố xét xử. Là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn hoạt động của cơ quan tư pháp cũng như thể chế hóa các quy định trong BLTTHS và các văn bản có liên quan.

      Xác  định phạm vi áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành các biện pháp theo luật định để buộc tội một người và kết thúc khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của tòa án, đồng thời xác định một người vô tội cũng phải có điều kiện cần và đủ. Điều kiện cần là người đó phải được chứng minh bằng quy trình luật định, điều nay có nghĩa là các biện pháp và trình tự chứng minh một người vô tội phải hợp pháp, nếu không hợp pháp hoặc có vi phạm thủ tục tố tụng thì không đủ cơ sở kết tội người đó. Điều kiện này đặt ra yêu cầu rất quan trọng cho VKSND với chức năng thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Điều kiện đủ là phải có một bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án mới có thẩm quyền xác định người có tội, các quyết định của cơ quan tiến hành tố  tụng trước đó như cơ quan điều tra, VKS không có ý nghĩa xác định một người có tội.

      Xác định trách nhiệm chứng minh một người có tội thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Nhưng quan trọng hơn nội dung của điều luật cũng thể hiện rõ cùng với trách nhiệm buộc tội thì cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm chứng minh người đó khônh phạm tội, đồng thời bảo đảm các quyền để người đó bảo vệ mình không có tội như quyền được bào chữa hoặc nhờ người bào chữa và người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội

   Tuy nhiên trên thực tế việc thực hiện nguyên tắc này chưa thực sự đầy đủ và triệt để. Những người được phân công các nhiệm vụ này hình như bị chi phối bởi một suy nghĩ phải chứng minh cho được người bị tình gnhi hoặc bị can, bị cáo đã phạm tội, chứ không phải là chứng minh họ có tội hay không. Từ nhạn thức đó, nên các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đều nhằm mục đích chứng minh việc phạm tội của họ. Khi đã chứng minh được họ phạm tội thì coi như cán bộ này đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, được tính thành tích, mà lẽ ra, khi bắt, khởi tố điều tra, truy tố, xét xử một người mà xác định người đó không có tội mới là chỉ số thành tích cao nhất, tốt nhất cảu việc thực thi công lý, vì đã minh oan được cho số phận một con người. Điều nay là cốt tử đối với những người đối diẹn với án tử mà thực ra là họ bị oan sai.

       Chính vì không nhận thức được đầy đủ nguyên tắc suy đoán vô tội nên một số điều tra viên, vì nôn nóng, bức xúc trước trách nhiệm điều tra được phân công, đã phải dùng đến những biện pháp vi phạm pháp luật TTHS như búc cung, dụ cung, thậm chí cat nhục hình chỉ để lấy lời khai nhận tội của bị can và kết thúc vụ án. Vì sợ hãi hay vì lí do nào đó mã những người nay buộc phải nhận tội để tránh những biện pháp đau đớn kia và mong muốn ra Tòa sẽ khai đúng sự thật. Nhưng đến Tòa cũng lại vấp phải cái tư duy của người xét xử về nghĩa vụ của bị cáo phải chứng minh là minh bị bức cung, nhục hình thì Tòa mới có cơ sở xem xét. Như vậy là tại phiên tòa, Tòa án đã buộc bị cáo phải có nghĩa vụ chứng minh lơi khai của mình về sự vô tội, trong khi đó, nghĩa vụ chứng minh lại không phải của họ.

Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội

      Đây là một nguyên tắc có ý nghĩa chính trị to lớn, và vì thế đã vượt ra ngoài phạm vi và nội dung pháp lý của nó nhằm ghi nhận địa vị của con người, tự do và dân chủ, ghi nhận mối liên hệ giữa tự do và trách nhiệm, dân chủ và pháp luật trong xã hội.

      Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sự buộc tội phải dựa trên những chứng cứ xác thực không còn nghi ngờ. Mọi sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, chứng minh làm rõ. Nếu không chứng minh làm rõ được sự nghi ngờ thì sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo phải được giải thích theo hướng có lợi cho họ. Ví dụ, nghi ngờ một người là phạm tội nhưng không chứng minh được họ phạm tội thì phải coi họ là người vô tội; nghi ngờ một người phạm tội nặng nhưng không chứng minh được họ phạm tội nặng mà chỉ có cơ sở xác định hành vi của họ thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhẹ hơn thì phải coi là họ phạm tội nhẹ hơn…

      Mục đích của TTHS là tội phạm phải được phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Tuy nhiên, trong thực tế có thể xảy ra tình huống các chứng cứ buộc tội yếu, cả hai khả năng oan và lọt cùng song song tồn tại mặc dù các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết mà pháp luật quy định. Trong trường hợp này, nguyên tắc suy đoán vô tội phải thực hiện theo hướng “thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội”

      Áp dụng nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong tố tụng để tránh oan sai. Thự tế chứng minh như vụ ông Nguyễn Thanh Chấn, nếu ngay đầu tiên áp dụng nguyên tắc này thì đã không có chuyện cố chứng minh ông Chấn phạm tội, dựng lại hiện trường dẫn tới oan sai.

      Từ đó, chúng ta có thể rút ra được một ý nghĩa to lớn của nguyên tắc này:

     Một là, nguyên tắc suy đoán vô tội không chỉ đáp ứng yêu cầu chứng minh: Chứng minh trong tố tụng hình sự là hoạt động cực kỳ phức tạp, không chỉ là những hành vi khách quan, những hậu quả thực tế mà còn cả những yếu tố tâm lý của người bị buộc tội. Mọi sai lầm trong chứng minh nhiều khi có thể phải trả giá bằng sinh mệnh của con người. Do đó, nếu chỉ chứng minh theo hướng suy đoán có tội thì rất dễ dẫn đến việc coi tố tụng hình sự chỉ đơn thuần là việc bắt người và ra bản án kết tội kèm theo những hình phạt cụ thể. Việc định kiến người bị tình nghi, bị can, bị cáo là người có tội là hết sức nguy hiểm. Nó đồng nhất người bị tình nghi, bị can, bị cáo là người có tội kéo theo đó là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng tràn lan, thiếu căn cứ, chà đạp lên quyền con người mà nhiều trường hợp khi vụ án được xem xét lại thì họ hoàn toàn vô tội. Lúc đó, có bồi thường oan sai đi chăng nữa thì hậu quả đối với họ không thể nói là đã bù đắp được toàn bộ.

     Hai là, nguyên tắc suy đoán vô tội còn bảo vệ được quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Hoạt động tố tụng hình sự bao gồm hai nhiệm vụ: Bảo vệ xã hội chống lại hành vi xâm hại từ phía tội phạm và bảo vệ cá nhân người bị buộc tội chống lại sự xâm hại quyền con người từ phía công quyền. Suy đoán vô tội còn đem đến sự cân bằng trong hoạt động tố tụng hình sự giữa một bên là nhà nước với bộ máy điều tra, truy tố xét xử hùng mạnh được hậu thuẫn bằng quyền lực nhà nước với một bên yếu thế hơn là người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Như vậy, không chỉ là quyền của người bị buộc tội, nghĩa vụ của bên buộc tội, thể hiện giá trị của văn minh nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người, suy đoán vô tội còn phù hợp với quy luật của nhận thức trong tố tụng hình sự:  Một người luôn vô tội khi nhà nước không chỉ ra được những bằng chứng chống lại điều này và chứng minh được họ có tội.

      Ví dụ: Gần đây, nổi cộm lên là vụ án của ông Phan Văn Vĩnh, thì Luật sư Đặng Văn Cường cũng cho biết thêm, theo nguyên tắc suy đoán vô tội của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chưa xác định các bị can trong đó có ông Phan Văn Vĩnh phạm tội mà phải chờ đến khi có bản án của tòa án có hiệu lực thi hành.

      Vì thế, trong quá trình điều tra truy tố, xét xử cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể thay đổi quyết định khởi tố, thay đổi tội danh và Tòa án sẽ là cơ quan có quyền quyết định mức hình phạt.

     Có thể nhận định rằng, suy đoán vô tội là một nguyên tắc tiến bộ. Nguyên tắc này bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự là khi cơ quan tố tụng không chứng minh được hành vi phạm tội thì phải suy đoán theo hướng ngược lại. Ngoài ra, nguyên tắc suy đoán vô tội cũng đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm: Họ không thể làm sai mà vẫn áp đặt ý chí chủ quan của mình để kết tội nghi can. Hơn nữa, nguyên tắc này đảm bảo tính pháp chế trong BLTTHS, là nhân tố phát triển tính đúng đắn của lĩnh vực tố tụng hình sự.

     Ba là, nguyên tắc suy đoán vô tội có quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa. Bởi vì nếu đã bị coi là có tội ngay từ khi chưa xét xử thì việc thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội chỉ còn là hình thức. Người bào chữa là người được đào tạo chuyên nghiệp về nghiệp vụ bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của bị cáo. Họ được nghiên cứu hồ sơ vụ án trên cơ sở am hiểu các quy định của pháp luật và được bị cáo hoặc gia đình bị cáo ủy quyền để bảo vệ cho các quyền và lợi ích chính đáng của bị cáo. Sự có mặt của người bào chữa nhằm đưa ra các luận cứ chứng minh sự vô tội của bị cáo hoặc đưa ra các lập luận đồng ý hay không đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát buộc tội. Đảm bảo quyền bào chữa là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền con người. Vì vậy, Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định rõ quyền tự bào chữa hoặc nhờ Luật sư, người khác bào chữa của những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

     Việc thiết lập nguyên tắc suy đoán vô tội có tác dụng kép:

      Thứ nhất, đó là lời cảnh báo thường xuyên đối với những người được xã hội giao chức năng gìn giữ, bảo đảm trật tự xã hội kèm theo quyền sử dụng công lực để thực hiện chức năng ấy. Họ phải thực hiện phận sự một cách mẫn cán, cẩn trọng, chặt chẽ và có trách nhiệm. Họ phải hiểu rằng nhiệm vụ của họ không chỉ để vạch mặt, chỉ tên tội phạm một cách chính xác mà còn tránh gây tai họa cho người hiền lương.

      Thứ hai, nó mở lối ra cho những vụ án đi vào ngõ cụt, khi mà dù đã làm hết cách, cơ quan có thẩm quyền không trả lời được câu hỏi: Ai thực sự là tác giả của hành vi được gọi là tội phạm?

Nguyên tắc suy đoán vô tội  có tác dụng giảm bớt tình trạng kéo dài thời gian giải quyết vụ án do phải điều tra bổ sung theo yêu cầu của Viện kiểm sát hoặc Tòa án, nên hồ sơ vụ án phải trả đi trả lại nhiều lần, theo quy định tại khoản 2 Điều 174; điểm b khoản 1 Điều 240 và Điều 280 BLTTHS năm 2015.

Thực trạng và biện pháp bảo đảm thực thi của nguyên tắc suy đoán vô tội

Thực trạng và nguyên nhân

Thực trạng

    Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật hình sự của các nước không có gì xa lạ cả. Và ngay ở BLTTHS Việt Nam cũng có qui định về điều này. Tuy nhiên những qui định này mới chỉ thấp thoáng, chưa rõ lắm vì thế việc thể hiện điều đó trong các qui định cụ thể cũng chưa được đảm bảo.

Lâu nay nguyên tắc suy đoán vô tội vẫn được mệnh danh là nguyên tắc vàng trong TTHS. Vì, nguyên tắc này khẳng định chỉ có tòa án mới có quyền tuyên một người nào đó phạm tội và áp dụng hình phạt đối với anh ta. Và, khi chưa có bản án kết tội của tòa án thì một người chưa bị coi là có tội và không được đối xử với người ta như một người có tội.  Thêm vào đó, một nội dung quan trọng và rất hay là mọi nghi ngờ về chứng cứ và pháp luật phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi.

Ví dụ: Vụ án thẩm mỹ viện Cát Tường, cơ quan điều tra đã áp dụng nội dung này của suy đoán vô tội. Khi không chứng minh được nạn nhân chết trước hay chết sau khi bị ném xuống sông (nghi ngờ) thì phải giải thích có lợi cho bị can tức là nạn nhân chết sau khi bị ném. Chính vì thế, nên Nguyễn Mạnh Tường bị điều tra, truy tố về tội Vi phạm các quy định về khám chữa bệnh gây hậu quả nghiêm trọng chứ không phải là giết người.

     Trong vụ án Đinh La Thăng, Luật sư Nguyễn Huy Thiệp đề nghị áp dụng ‘suy đoán vô tội’ với ông Đinh La Thăng, bởi theo ông “Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, nguyên tắc suy đoán vô tội đã bị ‘quên’ ở vụ án này. Tất cả những xem xét đều mang tính buộc tội”.

      Ông Thiệp nói pháp luật quy định nghĩa vụ chứng minh bao gồm cả chứng minh bị can không phạm tội. Song ông “không tìm thấy bất kỳ chi tiết nào” cho thấy cơ quan công tố đã thẩm tra chứng minh bị can không phạm tội.

      Theo ông Thiệp, thân chủ bị cho là vi phạm trong việc quyết định đầu tư tiền vào Oceanbank khi chưa họp HĐQT trước khi ký thỏa thuận và chưa xin ý kiến Thủ tướng trước khi ký nghị quyết góp vốn. Nhưng ông Thiệp cho rằng chưa có văn bản nào quy định quy trình đúng là phải ký nghị quyết sau khi xin ý kiến Thủ tướng.
Như vậy, nguyên tắc này được xem xét dưới hai góc độ chứng minh và đối xử.
Về chứng minh nó là phương pháp chứng minh phản chứng. Thay vì cho rằng nghi can có tội, người ta đặt giả thiết ngược lại, họ không có tội. Trong quá trình chứng minh khẳng định nghi can không có tội không có cơ sở tồn tại thì khẳng định đầu tiên là người này có tội mới được chứng minh.

       Những thành tựu:

    Có thể nói việc Nghị quyết  08/NQ/TW và Nghị quyết 49- NQ/TW của Bộ chính trị định ra mục tiêu cơ bản của cải cách tue pháp là bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đã chứng tỏ Nhà nước Việt Nam luôn bảo vệ những người vô tội, kể cả những người chưa có quyết định của cơ quan tư pháp nhưng đang bị rơi vào hoàn cảnh cực kỳ khó khăn khi đang ở tình trạng đang bị buộc tội.

     Theo BLTTHS, các quy định liên quan đến nguyên tắc suy đoán vô tội được thê rhiện trong accs giai đoạn TTHS, tạo thành hệ thống các quy phạm làm cơ sở cho việc bảo vệ quyền con người nói chung, nguyen tắc suy đoán vô tội nói riêng. Thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS của nước ta liên quan đến nguyên tắc suy đoán vô tội cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng, người THTT đã có nhiều cố gắng tuân thủ những quy định của nguyên tắc này, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của  người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vưới tính chất là người chưa có tội. Hằng năm, trong số các vụ án đã giải quyết ở tòa án các cấp đã có những vụ án giải quyết ở tòa án các cấp đa có những bị cáo được tuyên vô tội( năm 2009 có 41 bị cáo, năm 2010 có 17 bị cáo, năm 2013 có 15 bị cáo .

    Như vậy, việc thực tiễn liên quan còn nguyên tắc suy đoán đã được thể hiện qua những kết quả tiến bộ vượt bậc như việc ban hành những chính sách lớn có tính định hướng đường lối như Hiến pháp 2013, đã hoàn thiện hơn nội dung nguyên tắc này tại điều 31.

      Những hạn chế:

     Thực tế cho thấy, những nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội chưa được tuân thủ ttriệt để và nhất quán trong hoạt động lập pháp của nước ta cũng như hiện nay. Việc giải quyết vụ án hình sự tại Việt Nam trong nhiều năm qua vẫn còn tồn tại tình trạng oan sai, gây thiệt hại cho người dân, cụ thể là quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

     Một số vụ án gây chấn động như:

     Vụ Trần Văn Chiến ở Tiền Giang, ở tù oan 16 năm 3 tháng về tội giết người; vụ Phạm Thị Út ởTP. Hồ Chí Minh ở tù oan 12 năm về tội giết người, vụ Ông Nguyênc Thanh Chấn ở Bắc Giang tù oan hơn 10 năm về tội giết nugời; hay vụ  Nguyễn Hoàng Hà ở Đà Nẵng bị tạm giam oan 15 tháng 10 ngày về “ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; vụ án “ Vườn điều” ở Bình Thuận kéo dài 12 năm vẫn không tìm được hung thủ giết người.

     Như vậy, mặc dù số lượng vụ án xét xử oan sai không phải là lớn so với những  vụ án đã xét xử hằng năm nhưng hậu quả do các vụ án oan sai để lại thì không thể xác định và khắc phục được, bởi nó liên quan đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các quyền tự do khác của con người.

      b) Nguyên nhân:

     Có thể BLTTHS  Việt Nam hình như vẫn có e dè nào đó. Hình như suy đoán vô tội có gì hơi nhạy cảm một chút. Chính sự e dè này nên nguyên tắc này vẫn chưa được thể hiện cụ thể trong các qui định. Lúc thì thấp thoáng, lúc thì mất hút.
Và có một vấn đề là có người cho rằng, nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ làm ảnh hưởng đến qua trình điều tra vụ án hình sự. Nói nôm na là nhiều khi nó làm bó tay các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

      Nhiều quy định đang bị coi là rào cản khiến nguyên tắc suy đoán vô tội chưa được vận dụng tốt. Hiến pháp Việt nam 2013 đã quy định đảm bảo tranh tụng trong tố tụng hình sự. Muốn tranh tụng thì tiền đề là đảm bảo quyền bào chữa. Về cơ bản, Luật tố tụng hình sự Việt Nam đã quy định nguyên tắc đảm bảo quyền chữa. Tuy nhiên:

      Các qui định của BLTTHS về quyền bào chữa vẫn chưa rõ ràng.

      Ví dụ:  Liên quan đến người bào chữa đó là thủ tục để người bào chữa tiếp cận nghi can hiện nay. Luật tố tụng hình sự qui định rồi nhưng vẫn còn vướng mắc. Khi mà người ta có quyền bào chữa mà không có luật sư ở đó, về mặt tâm lý người ta đã không yên tâm. Luật sư là những người nắm được luật, có thể tư vấn cho nghi can.

      BLTTHS hiện nay chưa quy định đầy đủ quyền của người bào chữa khi tham gia bào chữa.

      Ví dụ:  Hiện nay BLTTHS chỉ quy định về chứng cứ thì chỉ cho người bào chữa được thu thập tài liệu đồ vật, liên quan đến việc bào chữa của mình. Những tài liệu đồ vật đấy có được sử dụng làm chứng cứ hay không thì lại phải nộp cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án. Nếu các cơ quan đó bảo đó là chứng cứ thì mới được chấp nhận là chứng cứ.

      Sau khi có sự kiện phạm tội xảy ra, do thỏa mãn với lời nhận tộ của bị can, đồng thời không xem xét toàn diện hệ thống chứng cứ

      Hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế, sau khi khởi tố, điều tra không chứng minh được hành vi phạm tội

      Áp dụng các văn bản pháp luật và giải thích pháp luật không chính xác nên dẫn đến việc khởi tố bị sai

      Việc nghiên cứu vụ án và xác định tội danh để truy tố của VKS trong một số trường hợp không căn cứ vào những chứng cứ khách quan, kết quả điều tra của cơ  quan điều tra, hoặc căn cứ vào những bằng chứng không xác thực, những bút lục không hợp pháp, thiếu khách quan của cơ quan điều tra dẫn đến việc truy tố sai, xác định tội danh nặng hơn cho bị can so với tình tiết khách quan của vụ án

      Trong hoạt động xét xử vụ án hình sự, còn nhiều bất cập liên quan đến quyền của bị cáo và vi phạm nguyen tắc suy đoán vô tội như: Sai lầm trong việc xác định khung hình phạt, tình tiết tăng nặng; sai lầm trong việc căn cứ vào các giả định, phán đoán về tình tiết vụ án hoặc các chứng cứ không xác thực, vẫn còn tình trạng “ án bỏ túi” hay “ án tại hồ sơ” mà không xem xét đến  chứng cứ được đưa ra tại phiên tòa; vi phạm trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

      Biệp pháp bảo đảm thực thi

      Trong TTHS chưa lúc nào quyền lực nhà nước mạnh như thế, bằng một hệ thống cơ quan cưỡng chế tác động người phạm tối để phát hiện xử lý tội phạm.
Khi quyền lực nhà nước mạnh như thế dẫn đến hệ quả là phía bên kia của cuộc chơi tức là người bị tình nghi người ta rất yếu đuối. Một bên mạnh, một bên yếu dễ dẫn đến quyền của bên yếu sẽ bị xâm phạm. Chính vì vậy để “quân bình” lực lượng thì phải tăng quyền cho bên người bị buộc tội, có phương pháp, có cơ hội bảo vệ quyền của mình, đó là quyền tối thiểu của con người.

      Trong tố tụng hình sự luôn có hai nhiệm vụ quan trọng là bên cạnh yêu cầu phát hiện, xử lý tội phạm còn nhiệm vụ quan trọng khác là minh oan cho người lương thiện: Không thể tư duy “bắt nhầm” còn hơn “bỏ lọt”

      Ngay từ thời La mã đã có một nguyên lý rất hay là trách nhiệm chứng minh thuộc về bên khẳng định chứ không phải bên phủ định. Ông nào đi kiện, mời ông chứng minh trước. Như vậy, trong tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng là người khẳng định ông này có tội hay không thì ông phải đi chứng minh được rằng người là thực sự là có tội. Chính vì vâỵ,  cảnh sát Mỹ họ luôn áp dụng câu nói: “anh có quyền im lặng đến khi có luật sư” có nghĩa là họ cảnh báo rủi ro, nếu anh khai trong lúc anh bối rối nhiều khi sẽ đem lại sự bất lợi cho anh. Họ rất sòng phẳng trong tố tụng hình sự.

      Trước hết, những người có trách nhiệm bảo đảm thực thi luật pháp :

     Trong phần lớn trường hợp, những người bị cơ quan chức năng đặt vào diện tình nghi cao rốt cuộc là người phạm tội đích thực. Nhưng không thể từ đó đánh đồng tất cả người bị tình nghi với tội phạm. Sự quy kết sớm và nghiệt ngã dễ tạo định kiến đối với người trong cuộc, đồng thời tạo điều kiện bộc phát tâm lý chủ quan, dẫn đến thái độ làm việc tùy tiện, tắc trách của người có thẩm quyền.

      Vì vậy , phải nhận thức được tầm quan trọng của công việc, đặc biệt là tác động trực tiếp của nó đối với cuộc sống, sự nghiệp, danh dự, nhân phẩm và cả tính mạng của con người. Từ nhận thức đó, người ta dễ dàng nhận ra yêu cầu số một đối với công việc của những người này, đó là phải tôn trọng sự thật khách quan. Phải bắt cho đúng người, quy cho đúng tội. Trong thực tiễn, ngoại trừ trường hợp phạm pháp quả tang, các vụ vi phạm pháp luật chỉ bị phanh phui sau khi đã xảy ra. Nói khác đi, có nhiều vụ phạm pháp mà sự thật về nó không bộc lộ một cách hiển nhiên, cần được dựng lại. Chính những người giữ các vị trí tương ứng với các giai đoạn trong quá trình tố tụng, chứ không phải ai khác, chịu trách nhiệm trong việc khôi phục toàn bộ bức tranh diễn biến thật của câu chuyện. Có được bức tranh hoàn hảo, không chỉ người có thẩm quyền mà toàn xã hội sẽ có điều kiện thẩm định, đánh giá bản chất của sự việc một cách đúng đắn, trên cơ sở đó có kết luận chính xác về việc một người có tội hay không có tội. Giảm thiểu oan trong tố tụng Song có những câu chuyện không thể được dựng lại do dấu vết, manh mối cơ bản không còn đầy đủ. Nghĩa là có những vụ vi phạm pháp luật bị bỏ lọt, tạm thời hoặc vĩnh viễn, bất chấp các nỗ lực của con người. Xã hội phải chấp nhận thực tế đó: Suy cho cùng cả việc phát hiện, cũng như việc bỏ sót các vụ vi phạm pháp luật, đều là những điều bình thường. Lý do là hệ thống quản lý, tư pháp, cũng như những người trong hệ thống đó, không phải là thần thánh, không hoàn hảo tuyệt đối về nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức.

      Đối với người giữ trọng trách trong hệ thống, việc cần làm mỗi khi xảy ra trục trặc là phải rà soát lại quy trình, xem chỗ nào, người nào là nguyên nhân. Sau đó họ phải có biện pháp chấn chỉnh, tránh để tái diễn những chuyện tương tự. Điều quan trọng là khi cơ quan tố tụng không thu thập được chứng cứ buộc tội thì nghi can phải được chính thức suy đoán là vô tội. Đối với xã hội, đó phải được coi là sự vô tội hoàn hảo, chắc chắn, không nghi ngờ, không tì vết. Nó cho phép người thụ hưởng tiếp tục sống, làm việc, giao tiếp trong những điều kiện bình thường. Có thể với nguyên tắc suy đoán vô tội, nhà chức trách, xã hội buộc phải chứng kiến kẻ bị cho là thủ ác nhởn nhơ trước mắt mình mà không làm được gì. Tuy nhiên, nếu sự thất bại trong việc buộc tội một người có thể khiến một gia đình phải chịu mất mát không thể bù đắp thì việc kết tội oan cho một người có thể làm tan nát cả hai gia đình, chưa kể những hệ lụy xã hội tiêu cực kéo theo

      Coi trọng nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sự:

      Cơ quan tư pháp, cơ quan điều tra có trách nhiệm phải tìm được bằng chứng chứng minh vô tội song song với việc tìm bằng chứng chứng minh có tội. Suy đoán vô tội hay giả định vô tội, là một trong những nguyên tắc cơ bản, được ứng dụng rộng rãi trong nền khoa học pháp lý hiện đại trong việc bảo vệ quyền con người và được quy định trong Hiến pháp.

      Cơ quan có trách nhiệm phải thực hiện song song hai công tác này mới có thể không để lặp lại lỗi thường được cơ quan điều tra mắc phải là không chú ý đến các tình tiết gỡ tội, chỉ tập trung chứng minh tội phạm, buộc bị can phải chịu tội, chịu trách nhiệm cho một vụ việc, nên có thể dẫn đến oan sai mà vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang là ví dụ điển hình.

      Nguyên tắc suy đoán vô tội cũng đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm. “Nguyên tắc suy đoán vô tội là phải nghĩ đến việc tìm chứng cứ gỡ tội cho người ta. Pháp luật các nước quy định cơ quan điều tra ngoài việc đưa ra chứng cứ buộc tội thì cũng phải đưa ra chứng cứ ngoại phạm cho bị cáo”,

      Để đảm bảo chống bức cung, nhục hình, minh bạch trong quá trình hỏi cung, các ý kiến thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, việc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung là cần thiết, để vừa bảo đảm minh bạch quá trình hỏi cung, vừa bảo vệ bị can, chống bức cung, dùng nhục hình, bảo vệ người hỏi cung tránh bị vu cáo. Trong điều kiện hiện nay, việc trang bị thiết bị ghi âm, ghi hình đối với hoạt động hỏi cung tại các cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra là khả thi.

      Suy cho cùng,nguyên tắc suy đoán vô tội còn bảo vệ được quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Hoạt động tố tụng hình sự bao gồm hai nhiệm vụ: Bảo vệ xã hội chống lại hành vi xâm hại từ phía tội phạm và bảo vệ cá nhân người bị buộc tội chống lại sự xâm hại quyền con người từ phía công quyền. Suy đoán vô tội còn đem đến sự cân bằng trong hoạt động tố tụng hình sự giữa một bên là Nhà nước với bộ máy điều tra, truy tố, xét xử được hậu thuẫn bằng quyền lực Nhà nước với một bên yếu thế hơn là người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Như vậy, không chỉ là quyền của người bị buộc tội, nghĩa vụ của bên buộc tội, mà còn thể hiện giá trị của văn minh nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người, suy đoán vô tội còn phù hợp với quy luật của nhận thức trong tố tụng hình sự: Một người luôn vô tội khi Nhà nước không chỉ ra được những bằng chứng chống lại điều này và chứng minh được họ có tội.

Tóm lại, suy đoán vô tội là một nguyên tắc văn minh, tiến bộ trên thế giới và trong pháp luật của nhiều quốc gia. Việc hoàn thiện các nội dung cơ bản của nó và bảo đảm tính thống nhất liên thông trong Hiến pháp, BLHS và Bộ luật TTHS không chỉ có ý nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý quan trọng, mà còn là “lá chắn thép” trong việc phòng chống oan sai, tôn trọng và bảo vệ các giá trị cao quý của con người. Đặc biệt, qua đó còn đề cao trách nhiệm của các cơ quan THTT, người THTT trước số phận chính trị, danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của công dân, họ vẫn có quyền và nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định cho đến khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

   Suy đoán vô tội là kết quả của văn minh nhân loại trong chứng minh và bảo vệ quyền con người trong TTHS. Để đạt được như vậy nó phải là quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ của nhân loại trong việc chống lại kiểu tố tụng phản khoa học, phi nhân tính của tố tụng hình sự phong kiến. Nó rất huyền diệu và văn minh.


Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề:Nguyên tắc suy đoán vô tội của bộ luật tố tụng hình sự 2015. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

phone-call