Bảo đảm quyền bào chữa của bị can là người chưa đủ 18 tuổi trong tố tụng hình sự – so sánh với thủ tục thông thường

Bảo đảm quyền bào chữa của bị can là người chưa đủ 18 tuổi trong tố tụng hình sự

      Bào chữa là một trong những nội dung cơ bản của tố tụng hình sự, đối trọng với chức năng buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng. Thông qua hành vi cụ thể, họ sử dụng các quyền luật định để làm sáng tỏ những tình tiết chứng minh cho sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như những tình tiết khác có lợi cho người bị buộc tội. Như vậy, quyền bào chữa là một quyền quan trọng của gười bị buộc tội và người bào chữa từ khi bị buộc tội đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị kể cả với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi.

      Hiểu được điều đó, em xin chọn đề bài số 3: “Bảo đảm quyền bào chữa của bị can là người chưa đủ 18 tuổi trong tố tụng hình sự – so sánh với thủ tục thông thường”.


Danh mục viết tắt:

THTT Thực hiện tố tụng
CTN Chưa thành niên
NBC Người bị can
TTHS Tố tụng hình sự

Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam/ Trường Đại học Luật Hà Nội; Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên; Trần Văn Độ,…
  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
  • Bộ luật Hình sự 2015.
  • Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam : luận văn thạc sĩ luật học / Nguyễn Huy Cường ; TS. Đỗ Thị Phượng hướng dẫn
  • Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Khái quát chung

Quyền bào chữa

       Bào chữa là tất cả các hoạt động của người bị buộc tội và người bào chữa từ khi bị buộc tội đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị. Thông qua hành vi cụ thể, họ sử dụng các quyền luật định để làm sáng tỏ những tình tiết chứng minh cho sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như những tình tiết khác có lợi cho người bị buộc tội. Đó có thể là hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng; hoặc đưa ra chứng cứ nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của người bị buộc tội; hoặc các hành vi tố tụng nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của người bị buộc tội, kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm hình sự trong vụ án.

       Bào chữa là một trong những nội dung cơ bản của tố tụng hình sự, đối trọng với chức năng buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng. Chính sự đối trọng này đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự được dân chủ, khách quan. Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng “Có buộc tội mà không có bào chữa thì hoạt động tố tụng sẽ mang tính chất một chiều và kết buộc chứ không phải là tranh tụng. Tố tụng hình sự không thể được thừa nhận là dân chủ khi chức năng buộc tội không có đối trọng là chức năng bào chữa…

       Quyền bào chữa xuất hiện từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, có quyết định tạm giữ hoặc từ khi khởi tố bị can. Quyền bào chữa kết thúc khi vụ án được xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật. Trong một số trường hợp đặc biệt, khi những căn cứ của việc buộc tội không còn, chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án thì chức năng bào chữa sẽ kết thúc sớm hơn.

       Quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội (những người bị bắt, bị tạm giữ nhưng chưa bị khởi tố) và người bào chữa, người đại diện hợp pháp của họ. Như vậy, chủ thể của quyền bào chữa là người bị buộc tội, bao gồm người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

       Quyền bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự là quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự hoặc để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Người dưới 18 tuổi

       Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 sử dụng thuật ngữ người chưa thành niên, đến Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thay thế thành thuật ngữ người dưới 18 tuổi. Qua việc nghiên cứu khái niệm, đối chiếu pháp luật quốc tế và các luật khác của Việt Nam cho thấy hai thuật ngữ này là đồng nhất. Việc sử dụng thuật ngữ người dưới 18 tuổi trong BLTTHS năm 2015 của các nhà lập pháp đã cụ thể hóa hơn về khung độ tuổi tối đa (dưới 18 tuổi) của các đối tượng áp dụng thủ tục này, đồng thời làm tăng hiệu quả thực thi trên thực tế.

       Như vậy, có thể hiểu người dưới 18 tuổi là là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Người chưa thành niên là người đang ở lứa tuổi mà khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế và đôi khi còn bị tác động mạnh mẽ của những điều kiện bên ngoài.

Bị can, bị cáo

       Khái niệm trong pháp luật tố tụng hình sự về “Bị can” và “Bị cáo” là để chỉ người hoặc pháp nhân thương mại có dấu hiệu tội phạm trong các quá trình khác nhau của của vụ án. Theo quy định tại điều 60 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này”. Điều 61 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có ghi: “Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này”.

Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi)

       “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam là tổng thể những hành vi tố tụng mà pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cho phép người đã bị khởi tố về hình sự và người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử là người dưới 18 tuổi có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội, làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc làm sáng tỏ tình tiết về sự vô tội của mình”.


Quy định về bảo đảm quyền bào chữa của bị can là người chưa đủ 18 tuổi trong tố tụng hình sự theo pháp luật hiện hành

       Trong hoạt động tố tụng hình sự, quyền bào chữa là quyền quan trọng nhất của người vi phạm pháp luật hình sự. Đây là tổng hợp các hành vi tố tụng do bị can, bị cáo thực hiện nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan thực hiện tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự. Thông thường sự tham gia của người bào chữa phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo. Họ có thể trực tiếp mời hoặc ủy quyền cho người thân của mình mời NBC. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt luật quy định sự tham gia của người bào chữa vào trong vụ án không phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo. Đó là các trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 khi những chủ thể này hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì các cơ quan thực hiện tố tụng có nghĩa vụ yêu cầu Đoàn luật sư, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cử người bào chữa cho họ. Đó là những trường hợp liên quan đến người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

       Bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi có đầy đủ các quyền tố tụng như bị can, bị cáo là người thành niên. Bên cạnh đó, họ còn được thừa nhận những quyền tố tụng đặc thù để có thể bảo vệ một cách tốt nhất, thuận lợi nhất lợi ích chính đáng của mình.

       Tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa nguyên tắc Hiến định nêu trên tại Điều 16 về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự: Người bị buộc tội có quyền bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

       Về vấn đề quyền bào chữa của người chưa thành niên, Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 mới chỉ quy định quy định một cách khái quát: Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể về vấn đề bào chữa của người dưới 18 tuổi (Bộ luật năm 2015 đã thay cụm từ người chưa thành niên bằng cụm từ người dưới 18 tuổi).

       Điểm đáng chú ý là, Điều 422 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định khẳng định quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi: Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Ngoài ra, Điều luật đã bỏ cụm từ mang tính chất tùy ghi “có thể” và thay vào đó là cụm từ “có quyền”: Người đại diện của người dưới 18 tuổi bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người dưới 18 tuổi bị buộc tội.

       Như vậy, việc sửa đổi, bổ sung quy định rõ hơn cơ chế thực hiện quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi bị buộc tội sẽ đảm bảo sự chặt chẽ, cụ thể về trình tự, thủ tục bào chữa, bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp của họ khi tham gia tố tụng. Người dưới 18 tuổi hoàn toàn có quyền tự bào chữa cho mình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trực tiếp cho bản thân mình thay vì thông qua người đại diện. Điều đó thể hiện sự tiến bộ của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sự quan tâm cũng như sự tôn trọng quyền cơ bản của con người đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi. Sửa đổi này cũng nhằm thống nhất với quy định về quyền bào chữa theo quy định của Hiến pháp năm 2013.

       Bên cạnh đó quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn ghi nhận quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người dưới 18 tuổi bị buộc tội của người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi bị buộc tội cùng quy định về trường hợp không có người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bào chữa để đảm bảo tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong giai đoạn xét xử.

       Dưới đây là bảng so sánh:

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Điều 305. Bào chữa

1. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

2. Trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình.

Điều 422. Bào chữa

1. Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

2. Người đại diện của người dưới 18 tuổi bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người dưới 18 tuổi bị buộc tội.

3. Trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không có người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.

Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện quy định hiện hành về quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi

Thực tiễn thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự

       Nhìn chung, các cơ quan và người THTT đã nhận thức đúng đắn và toàn diện về những đặc điểm đặc thù của nhóm chủ thể tội phạm là người CTN, vì vậy, khi THTT, họ đã thận trọng, vận dụng đúng quy định của pháp luật trong việc áp dụng thủ tục tố tụng đối với từng trường hợp cụ thể. Trong suốt quá trình tố tụng, từ khi người CTN tham gia tố tụng với tư cách bị can, bị cáo, các cơ quan THTT luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để NBC, gia đình, nhà trường và tổ chức xã hội tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người CTN.

       Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã có những ghi nhận và bổ sung tiến bộ về bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những vướng mắc, bất cập nhất định. Điều này dẫn đến việc quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi chưa được bảo đảm, đồng thời ảnh hưởng đến hiệu quả trong việc thực thi nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự. Nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi nhận thấy những khiếm khuyết trong quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và một số văn bản pháp luật có liên quan tập trung hầu hết trong việc quy định về các quyền tố tụng của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi khi tham gia vụ án hình sự, cụ thể là:

       Thứ nhất, quy định tại Điều 415 Bộ luật TTHS 2015 cũng chỉ mới đề cập tới việc điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán “phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi” chứ không bắt buộc họ phải là người được đào tạo hoặc có chuyên môn về tâm lý học, về khoa học giáo dục người CTN. Chính từ điều này đã gây ảnh hưởng đến chất lượng điều tra, truy tố, xét xử bị can, bị cáo là người CTN và dẫn đến sự vi phạm về quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể đặc biệt này.

       Thứ hai, quy định về người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo là người CTN còn chưa rõ ràng. Bộ luật TTHS không nêu khái niệm “người đại diện hợp pháp” như đối với những người tham gia tố tụng khác. Việc xác định không chính xác tư cách tham gia tố tụng sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau khi cần phải xem xét tính đúng đắn của các bản án, quyết định của Tòa án đối với quyền và nghĩa vụ của người đại diện hợp pháp của bị cáo.

       Thứ ba, quy định về trường hợp cần thiết phải có mặt của đại diện gia đình bị can trong khi hỏi cung tại cơ quan điều tra còn chưa hợp lý. Khoản 2 Điều 421 quy định: “Việc lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải có mặt người bào chữa hoặc người đại diện của họ”. Có thể nhận thấy quy định này quá chung chung về căn cứ để thực hiện biện pháp này. Cho đến nay, vẫn chưa có một văn bản nào hướng dẫn cụ thể như thế nào là trường hợp cần thiết mà “trường hợp cần thiết” thường phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan điều tra . Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, nếu theo đánh giá của Tòa án thì trường hợp đó có thể coi là trường hợp cần thiết, nhưng việc hỏi cung bị can tại cơ quan điều tra không có mặt đại diện của gia đình bị can (do cơ quan điều tra đánh giá trường hợp này không phải là trường hợp cần thiết) thì Tòa án không được trả hồ sơ để điều tra bổ sung với lý do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Chính từ việc quy định chưa rõ ràng như vậy cho nên đại diện của gia đình của bị can là người dưới 18 tuổi hiếm khi được cơ quan điều tra mời tham dự những buổi hỏi cung với lý do “để giữ bí mật trong quá trình điều tra tội phạm”.

       Thứ tư, hoạt động của các cơ quan thực hiện tố tụng hình sự còn chưa tốt, đội ngũ luật sư có sự gia tăng về số lượng nhưng chất lượng chưa cao, có hiện tượng vi phạm đạo đức. Bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi thiếu tính chủ động trong việc bào chữa và nhờ người khác bào chữa. Khi bị rơi vào vòng lao lý, họ phó mặc cho các cơ quan tiến hành tố tụng quyết định số phận của mình. Bên cạnh tâm lý hoang mang, lo sợ và sự thiếu hiểu biết về pháp luật cũng như không có kỹ năng bào chữa nên hầu hết các trường hợp tự bào chữa cho thấy chất lượng không cao.

Kiến nghị hoàn thiện

       Thứ nhất, các cơ quan THTT cần có sự chuyên môn hóa về tổ chức cũng như về nguồn nhân lực để giải quyết các vụ án do người CTN thực hiện.

       Cần có những văn bản pháp luật hướng dẫn các quy định còn chưa rõ ràng, chung chung.

       Nâng cao chất lượng cơ quan tiến hành tố tụng, đoàn Luật sư cần có kĩ năng và đạo đức tốt. Cần có người hướng dẫn, giải thích các quy định, thủ tục tố tụng hình sự cho bị can, bị cáo dưới 18 tuổi và người đại diện của họ.


So sánh quyền bào chữa của thủ tục thông thường với quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi

       Nhìn chung, quyền bào chữa của bị can, bị cáo trên 18 tuổi với bị can, bị cáo dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật hiện hành đều được đảm bảo ở việc có quyền tự bào chữa và nhờ người bào chữa. Tuy nhiên, vì sự đặc biệt về mặt nhận thức, suy nghĩ chưa hoàn thiện dẫn đến việc dễ bị xúi giục, có hành vi lệch lạc chuẩn mực xã hội cho nên trình tự, thủ tục xử lý hành vi phạm tội của bị can, bị cáo dưới 18 tuổi có sự đặc biệt hơn cũng như dược hưởng quyền và lợi ích đặc biệt hơn so với bị can, bị cáo là người trên 18 tuổi.

       So với quyền bào chữa của bị can, bị cáo trên 18 tuổi thì những bị can, bị cáo dưới 18 tuổi trường hợp không có người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bào chữa, còn những bị can, bị cáo trên 18 tuổi chỉ được chỉ định người bào chữa nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa chỉ khi bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần.

       Tóm lại, bởi các đặc điểm riêng biệt của người dưới 18 tuổi nên họ được hưởng các trình tự thủ tục đặc biệt hơn bị can, bị cáo trên 18 tuổi.

       Bảo vệ trẻ em nói chung và người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Mặc dù vậy, trong thời gian qua tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội vẫn tiếp tục gia tăng với những diễn biến phức tạp. Bởi vậy, cần thiết phải tiếp tục nỗ lực hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cùng với đó là các hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật nhằm uốn nắn những suy nghĩ lệch lạc ngay từ lúc đầu và hạn chế tối đa sự lợi dụng của các đối tượng xấu lên người dưới 18 tuổi.


      Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi cung cấp đến bạn về vấn đề:Bảo đảm quyền bào chữa của bị can là người chưa đủ 18 tuổi trong tố tụng hình sự – so sánh với thủ tục thông thường. Để được tư vấn cụ thể hơn bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy.

      Trân trọng ./.


Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

phone-call