Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đối với việc thực hiện bình đẳng giới thực chất ở nước ta hiện nay

biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đối với việc thực hiện bình đẳng giới thực chất ở nước ta hiện nay

      Trong xã hội hiện nay còn tồn tại rất nhiều yếu tố gây ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới như định kiến giới, phân công lao động theo giới, nhu cầu giới,… Khi có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò điều kiện, cơ hội thì các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo bình đẳng giới. Để đạt được bình đẳng giới thực chất là cả một quá trình lâu dài với sự chuyển biến nhận thức một cách căn bản. Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn vấn đề này, em xin hoàn thiện đề bài: “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đối với việc thực hiện bình đẳng giới thực chất ở nước ta hiện nay.” Bài làm còn nhiều thiếu sót, mong thầy cô góp ý để bài làm của em hoàn thiện hơn. Em xin cảm ơn!


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Ngô Thị Hường- TS. Nguyễn Phương Lan, Tập bài giảng Luật Bình đẳng giới, Hà Nội, 2013
  • Luật Bình đẳng giới năm 2006
  • Nghị định 48/2009/ NĐ-CP ngày 19/05/2009 quy định các biện pháp đảm bảo bình đẳng giới.
  • Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới, Đưa vấn đề giới vào phát triển, Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà nội, 2001, tr37

Một số vấn đề lý luận

Khái niệm Bình đẳng giới

        Ngân hàng thế giới đưa ra định nghĩa về bình đẳng giới như sau: “Bình đẳng giới theo nghĩa bình đẳng về luật pháp, cơ hội-bao gồm sự bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và cả nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong thù lao công việc và trong tiếng nói.”

        Theo Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam thì bình đẳng giới được hiểu là “sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới. Nam giới và phụ nữ đều có vị thế bình đẳng và được tôn trọng như nhau.”

        Dưới góc độ pháp lý, theo Khoản 3, Điều 5 Luật Bình đẳng giới quy định: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.”

Khái niệm Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

        Theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật Bình đẳng giới quy định:

        “ Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chêch lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.”

        Như vậy, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được hiểu là những biện pháp có tính chất đặc biệt tạm thời do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, được áp dụng nhằm thúc đẩy nhanh sự bình đẳng trong thực tế giữa nam- nữ và sẽ chấm dứt khi mục tiêu bình đẳng giới đã đạt được.

Nội dung biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

      Theo quy định Điều 19 Luật Bình đẳng giới năm 2006 và khoản 2 Điều 14 Nghị định 48/2009/NĐ-CP, các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm:

      Quy định tý lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội;

      Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam để bảo đảm đạt đủ tiêu chuẩn chuyên môn và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật;

      Hỗ trợ, tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam để tăng cường sự chia sẻ giữa nữ và nam trong công việc gia đình và xã hội phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới;

      Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam để thực hiện chính sách ưu tiên trong từng lĩnh vực cụ thể;

      Quy định nữ được quyền lựa chọn và việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có điều kiện tiêu chuẩn như nam để bảo đảm bình đẳng giới;

biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đối với việc thực hiện bình đẳng giới thực chất ở nước ta hiện nay

Nội dung Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

      Thứ nhất, Việc áp dụng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là yêu cầu cần thiết khách quan khi còn tồn tại khoảng cách giới.

      Những biện pháp thúc đẩu bình đẳng giới chỉ được áp dụng trong các lĩnh vực còn tồn tại sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Việc thực hiện biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới nhằm nhanh chóng đạt được sự bình đẳng giới trong thực tế và rút ngắn khoảng cách giới.

      Bình đẳng giới là nam nữ có điều kiện, cơ hội như nhau trong việc phát huy năng lực, thực hiện các quyền tự do cơ bản của mình và được thụ hưởng như nhau các lợi ích của sự phát triển. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nam nữ có những xuất phát điểm khác nhau, có những điều kiện hoàn cảnh đặc thù khác nhau. Đối với phụ nữ, do đặc điểm sinh học thường gặp những điều kiện khó khăn hơn nam giới, ví dụ như việc thụ thai và thiên chức làm mẹ…Do đó, phải tạo cho phụ nữ những điều kiện thuận lợi  hơn, tốt hơn trong từng thời điểm, giai đoạn nhất định để họ có điều kiện thực sự bình đẳng với nam giới. Việc áp dụng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới nhằm tạo cho phụ nữ những điều kiện thuận lợi hơn để họ có thế thực hiện được các quyền cơ bản của mình bình đẳng như nam giới trong từng hoàn cảnh nhất định.

      Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới thực chất là những quy định do cơ quan nhà nước ban hành quy định rõ những ưu tiên, những bảo đảm co lợi hơn cho một giới trong một khoảng thời gian nhất định. Những biện pháp này chỉ có ý nghĩa cần thiết khi còn tồn tại khoảng cách giới quá lớn giữa nam và nữ mà việc thực hiện những quy định như nhau cho cả nam và nữ không làm xóa bỏ được sự chênh lệch đó. Khi đã đạt được mục tiêu bình đẳng giới thì những biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới phải chấm dứt.

      Thứ hai, Việc áp dụng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới

      Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới chỉ được thực hiện trong những điều kiện nhất định ở khu vực, những lĩnh vực còn bất bình giới, còn tồn tại sự chênh lệch lớn về khoảng cách giới mà việc thực hiện các quy địnhn như nhau đói với nam và nữ không làm xóa bỏ được khoảng cách giới. Áp dụng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới làm nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giới, để đạt được bình đẳng giới thực chất. Khi khoảng cách giới được rút ngắn, xóa bỏ thì các biện pháp thúc đẩy sẽ châm dứt.

      Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới chỉ được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, có tính chất tình thế, tạm thời nhằm nhanh chóng xóa bỏ khoảng cách giới, để đạt được bình đẳng giới thực chất, chứ không cố ý duy trì những tiêu chuẩn khác nhau hoặc bất bình đẳng giữa nam và nữ.

      Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được áp dụng đối với cả hai giới nam và nữ nhằm bảo vệ quyền lợi của cả hai giới, chứ không chỉ là biện pháp áp dụng riêng đối với phụ nữ để bảo vệ quyền, lợi ích của riêng phụ nữ.

      Việc áp dụng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đem lại bình đẳng giới thực chất, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của cả hai giới, đem lạo kết quả tích cực chứ không phải những hậu quả bất lợi cho các bên, góp phần nhanh chóng đạt được bình đẳng giới thực chất, qua đó đảm bảo được sự phát triển bền vững của đất nước.

Thực trạng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới tại Việt Nam

      Bình đẳng giới đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật và trong các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Việt Nam là một trong những quốc gia sớm dành cho công tác bình đẳng giới những ưu tiên nhất định.

      Cụ thể, trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa năm 1946, tại Điều 9 đã đề cập thẳng đến quyền bình đẳng nam nữ: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện”. Và trong di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh có trăn trở: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng có thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”. Và vấn đề này đã được thể chế hóa thành các văn bản Luật như Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành các chương trình hành động như: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 – 2020, Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020… để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngay chính trong gia đình của họ.

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong từng lĩnh vực

      Trong lĩnh vực chính trị

    Về cơ sở pháp lý: Theo khoản 5 Điều 11 Luật Bình đẳng giới quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm: Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; bảo đảm tỷ lệ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan Nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

      Trong Chiến lược Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam xác định việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội để tăng số phụ nữ được giới thiệu và bầu tham gia lãnh đạo các cấp, các ngành là một trong 5 mục tiêu chính của vấn đề bảo đảm bình đẳng giới. Việt Nam cam kết bảo đảm bình đẳng giới một cách bền vững, không chỉ ghi nhận quyền để người phụ nữ được tham gia ứng cử, tham gia quản lý nhà nước mà bằng các biện pháp hữu hiệu để người phụ nữ có đủ điều kiện thực thi quyền.

      Về thành tựu:

Việt Nam đã nỗ lực trong việc nâng cao năng lực cho người phụ nữ và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Phụ nữ Việt Nam đã và đang tham gia thực sự vào công tác lãnh đạo và quản lý trong hầu hết các mặt của đời sống xã hội.

      Nữ giới Việt Nam có tổ chức chính trị riêng, đó là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Và tỷ lệ nữ giới đại diện trong cơ quan lập pháp của Việt Nam luôn thuộc nhóm có thứ hạng cao nhất trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung và tỷ lệ này ngày càng tăng. Điển hình, quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng” thì tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội luôn duy trì ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng lên. Cụ thể: từ 3% ở Quốc hội khóa I tăng lên 24,4% ở khóa VIII (2011 – 2016) và tỷ lệ này là 26,72% với 133 nữ đại biểu Quốc hội trên tổng số 496 đại biểu ở khóa XIV (2016 – 2021). Hay trong bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở nhiều địa phương tỷ lệ phụ nữ trúng cử vượt dự kiến.

      Về hạn chế:  Vai trò và vị trí người phụ nữ trong công tác lãnh đạo và quản lý vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và nguyện vọng của phụ nữ. Ở một số nơi, tỷ lệ trong các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan dân cử còn thấp. Tình trạng tỷ lệ cán bộ nữ ở cấp dưới thấp gây trở ngại chọ việc bổ sung cán bộ nữ ở cấp trên. Đây là trở ngại lớn cho việc bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị.

      Trong lĩnh vực kinh tế

      Về cơ sở pháp lý: Theo khoản 2 Điều 12 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định: Doanh nghiệp  sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật. Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

      Thực tế cho thấy lao động nữ chiếm một tỷ lệ không nhỏ nhưng khả năng kiếm việc làm để tạo thu nhập và cải thiện đời sống của phụ nữ so với nam giới bị hạn chế. Chính vì vậy, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế tạo ra khung pháp lý chính sách thích hợp để người phụ nữ có điều kiện tìm kiếm việc làm tạo thu nhập, cải thiện cuộc sống và thực hiện các quyền bình đẳng mà pháp luật ghi nhận.

Về thành tựu: Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm đảm bảo mục tiêu cải thiện cuộc sống cho phụ nữ nông thôn, thực hiện các chính sách khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, đặc biệt là hỗ trợ vay vốn tín dụng. Hội phụ nữ có quyền bảo lãnh bằng tín chấp cho phụ nữ vay một khoản tiền nhỏ tại ngân hàng để sản xuất kinh doanh. Phụ nữ được vay tín dụng với mức lãi suất thấp. Các hộ nghèo và hộ do phụ nữ làm chủ hộ được Nhà nước ưu tiên cho vay từ ngân sách phục vụ người nghèo.

­     Về hạn chế: Mặc dù Nhà nước thực hiện nhiều chính sách để cải thiện đời sống của phụ nữ nông thôn nhưng hiện nay họ vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi và đối mặt với những thách thức lớn như:

  • Tình trạng lao động quá tải thường xuyên để đảm bảo cuộc sống gia đình;
  • Tình trạng thiếu việc làm theo thời vụ và hiệu quả lao động chưa cao;
  • Lao động nữ không qua đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ; trình độ văn hóa thấp;
  • Thiếu thông tin và ít được tham gia hoạt động văn hóa, thể thao;
  • Ảnh hưởng phong tục, tập quán và sự ràng buộc trong quan hệ gia đình, làng xóm;
  • Cơ sở hạ tầng nghèo nàn, điều kiện vệ sinh môi trường thiếu bảo đảm;
  • Gia đình đông con và phân công lao động bất hợp lý;

      Trong lĩnh vực lao động

      Về cơ sở pháp lý: Theo khoản 3 Điều 13 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

      Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

      Đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

      Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn cho người lao động nữ làm việc trong một số ngành nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

      Về thành tựu:  Nhà nước tôn trọng quyền tự do lựa chọn việc làm của nam nữ, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo đều có cơ hội được lựa chọn việc làm phù hợp và bình đẳng trước pháp luật.

      Năm 2017, tỷ lệ nữ giới tham gia lao động chiếm 48,4% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên. Và với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động lên đến 73% trong tổng số phụ nữ trong độ tuổi lao động, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam hiện đang đi làm nhiều hơn hẳn so với phần lớn các quốc gia khác trên thế giới. Tỷ lệ này cũng cao hơn mức trung bình thế giới (49%), cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương (59%) và nhóm các nước thu nhập trung bình thấp (39%). Thêm vào đó, tỷ lệ phụ nữ làm chủ doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh ở nước ta đạt trên 31,6%, thuộc nhóm cao nhất của khu vực Đông Nam Á.

      Về hạn chế: Do đặc điểm về giới tính người phụ nữ với thiên chức làm mẹ, nên nhiều bộ phận doanh nghiệp không muốn tiếp nhận lao động nữ, gây khó khăn cho người phụ nữ trong việc tìm kiếm việc làm.

      Nhiều trường hợp, người phụ nữ được tuyển dụng nhưng lại không được đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động vì họ chưa được qua đào tạo nghề. Trong bối cảnh hiện nay, đòi hỏi đội ngũ lao động thông qua đào tạo là vấn đề cấp bách.

      Người sử dụng lao động còn xem nhẹ vấn đề bảo đảm môi trường và điều kiện làm việc an toàn dẫn tới tình trạng thực tế phụ nữ phải làm việc trong môi trường không an toàn. Vì vậy, cần có các quy định cụ thể và chính sách phù hợp đảm bảo cho biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đạt hiệu quả, góp phần đảm bảo bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động trên thực tế.

      Trong lĩnh vực giáo dục

      Về cơ sở pháp lý: Theo khoản 5 Điều 14 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực đào tạo bao gồm: Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo; Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trơ dạy nghề theo quy định pháp luật;

      Về thành tựu: Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước nỗ lực thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược để đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, việc đa dạng hóa các loại hình đào tạo, xã hội hóa giáo dục đã mở ra nhiều cơ hội cho nam nữ được học tập nâng cao trình độ. Phụ nữ được bình đẳng về quyền học tập với nam giới trên thực tế.

      Về hạn chế: Quyền tham gia học tập của phụ nữ bị chi phối bởi định kiến giới. Xuất phát từ quan điểm nam nội nữ ngoại, trọng nam khinh nữ, trong nhiều gia đình vẫn còn hiện tượng coi trọng việc học của con trai hơn con gái nên cơ hội học tập của trẻ em gái bị ảnh hưởng. Tỷ lệ trẻ em nữ bỏ học cao hơn nam, phụ nữ bỏ học đi học trở lại không cao do kinh tế khó khăn.

Những thách thức trong giai đoạn hiện nay

      Việt Nam là đất nước chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo nên có nhiều phong tục, tập quán thể hiện việc nhìn nhận đánh giá về vị thế của người phụ nữ mang định kiến giới. Nếu không thực hiện biên pháp thúc đẩy bình đẳng giới thì bình đẳng giới sẽ khó được đảm bảo trên thực tế.

      Bình đẳng giới phải được hiểu là sự đối xử công bằng về mặt luật pháp, cũng như vị thế xã hội giữa nam và nữ giới. Những thành tựu đã đạt được trong công tác bình đẳng giới của Việt Nam là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề đã và đang tồn tại là trở lực rất lớn cho công tác bình đẳng giới. Cụ thể như sau:

      Về kinh tế: Chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ cùng một vị trí công việc vẫn tồn tại, cơ hội để phụ nữ tiếp cận những việc làm có thu nhập cao vẫn thấp hơn so với nam giới, lao động nữ chưa được đánh giá cao như lao động nam, là đối tượng dễ bị rủi ro và tổn thương hơn khi doanh nghiệp có nhu cầu cắt giảm nhân lực. Đặc biệt là hiện nay, thu nhập bình quân của lao động nữ luôn thấp hơn nam giới.

      Về chính trị – xã hội: Tỷ lệ nữ giới làm công tác quản lý, lãnh đạo tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với các vị trí quản lý, lãnh đạo nói chung, so với sự gia tăng của lực lượng lao động nữ nói riêng.

­     Trong gia đình: Phụ nữ vẫn phải làm những công việc nội trợ là chủ yếu; vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ trong quá trình sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia đình. Ngoài ra, phụ nữ còn gặp phải những vấn đề khác như bạo lực gia đình, nạn nhân của buôn bán người, bóc lột lao động, xâm hại tình dục.

Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới thực chất

      Nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế; phá vỡ rào cản trong công tác bình đẳng giới và “Đạt được bình đẳng giới; tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái” qua 08 mục tiêu cụ thể được ghi nhận tại Tại Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bềncần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:

      Trước hết phải nâng cao nhận thức về bình đẳng giới:

      Hiện nay, tình trạng “trọng nam, khinh nữ” vẫn đang là một hệ luỵ tư tưởng lớn, không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của nữ giới mà còn hạn chế sự phát triển của xã hội. Chỉ khi thay đổi được nhận thức, xoá bỏ định kiến về giới thì mới thay đổi được cách hành xử. Chính vì vậy, cả nam và nữ đều phải thay đổi nhận thức, xoá bỏ định kiến phân biệt giới và để nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cần thực hiện các biện pháp cụ thể như: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bình đẳng giới; Tiến đến xoá bỏ dần những phong tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời có mang định kiến về giới; Thường xuyên tổ chức các buổi toạ đàm, sinh hoạt, nói chuyện về bình đẳng giới trong các cơ quan, đơn vị, trong các khu dân cư.

      Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện, đẩy mạnh thực hiện các quy định của pháp luật, các chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới

      Cần thay đổi các quy định hiện hành còn chưa phù hợp, hạn chế bình đẳng giới. Cụ thể Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tại Khoản1, Điều 71 quy định rõ là: “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên”. Nhưng Khoản 4 Điều 2 về nguyên tắc cơ bản trong việc thực hiện chế độ hôn nhân gia đình vẫn tiếp tục duy trì khuôn mẫu giới bởi quy định: “giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình”. Quy định này không khác nào khẳng định trách nhiệm nuôi dạy con cái vẫn thuộc về người mẹ, kế hoạch hoá gia đình chủ yếu vẫn là trách nhiệm của người vợ. Nói như vậy để thấy rằng cần điều chỉnh những quy định chưa phù hợp và cần xoá bỏ khuôn mẫu giới ngay tại các văn bản quy phạm pháp luật.

      Lồng ghép công tác bình đẳng giới vào nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và chương trình phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương. Xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm, phân biệt giới để răn đe trong xã hội. Các trường hợp này cần phổ biến rộng rãi bằng nhiều hình thức như: tổ chức các phiên toà lưu động; tuyên truyền miệng tại tổ dân phố, các khu dân cư; lồng ghép vào các chương trình phát thanh, truyền hình địa phương để tạo hiệu ứng lan toả tốt nhất đủ sức cảnh báo, răn đe để người dân biết và không vi phạm.

      Thứ ba, tích cực thu hẹp khoảng cách về giới tại nơi làm việc.

      Tuy pháp luật đã có quy định cụ thể về nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử dựa trên giới tính, nhưng trên thực tế cần bảo đảm cơ chế triển khai thực hiện các quy định này trên thực tế. Cần nâng cao nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động về lợi ích kinh tế và xã hội của bình đẳng giới và nhất là thay đổi tư duy của người sử dụng lao động nhằm xoá bỏ những định kiến và rào cản đối với cả nam và nữ.

      Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có cơ chế giám sát các cơ sở lao động trong việc thực hiện chế độ thai sản, cung cấp và xã hội hóa các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc trẻ em để tạo điều kiện tốt nhất cho cả lao động nam và nữ; đảm bảo phụ nữ và nam giới được tạo cơ hội bình đẳng trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao tay nghề; trong lương hay thậm chí là trong thi đua, khen thưởng…

      Thứ tư, tập trung nhân rộng các mô hình tốt thực hiện bình đẳng giới

      Các địa phương đã triển khai mô hình tuyên truyền về bình đẳng giới như “Câu lạc bộ bình đẳng giới”, tổ công tác “tư vấn, hỗ trợ bạo lực giới”, xây dựng “Nhà tạm lánh” hỗ trợ người bị bạo hành về giới… đã phát huy tác dụng trên thực tế. Tuỳ vào điều kiện từng địa phương mà cần duy trì, nhân rộng các mô hình này.

      Như vậy, có thể thấy rằng bình đẳng giới là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước dành sự ưu tiên đặc biệt. Và những nỗ lực trong việc thực hiện bình đẳng về giới đã mang lại nhiều thành tựu to lớn được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá rất cao. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được rõ ràng, không thể phủ nhận vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Nhưng cần khẳng định một lần nữa: Bình đẳng giới, bình đẳng các dân tộc trở thành mục tiêu phát triển của Việt Nam nói riêng, của cộng đồng quốc tế nói chung; và để đạt được mục tiêu này không phải một sớm một chiều mà là cả một quá trình lâu dài và cần sự vào cuộc của chính quyền, sự tham gia của toàn dân.

      Bình đẳng giới là cơ sở để đảm bảo sự phát triển bền vững.Việc áp dụng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đối với việc thực hiện bình đẳng giới thực chất ở nước ta hiện nay là yêu cầu cần thiết khách quan khi đang còn tồn tại khoảng cách giới.


       Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi cung cấp đến bạn về vấn đề: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đối với việc thực hiện bình đẳng giới thực chất ở nước ta hiện nay. Để được tư vấn cụ thể hơn bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy.

       Trân trọng ./.


Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

phone-call