Áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện

Áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện

Ma túy là một thứ nguy hiểm, gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội nói chung và bản thân người nghiện ma túy cũng như gia đình của người nghiện ma túy nói riêng.

Pháp luật đã quy định khá chặt chẽ nhằm ngăn ngừa, phòng chống ma túy. Một trong những biện pháp được đưa ra là cai nghiện bắt buộc.

Đây là biện pháp xử lý hành chính áp dụng với người có hành vi vi phạm quy định tại Điều 96 Luật xử lí vi phạm hành chính 2012, được cụ thể tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lí hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bài viết này của Luật Quang Huy sẽ trình bày rõ hơn về vấn đề này.


1. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện

Đối tượng áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc được quy định tại Điều 96 Luật Xử lí vi phạm hành chính 2012 và Khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP, cụ thể như sau:

 Điều 3. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.

2. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy.

3. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú n định.

Cũng theo quy định tại Điều 96 Luật xử lí vi phạm hành chính 2012, những trường hợp sẽ không bị áp dụng biện pháp này là:

  • Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;
  • Người đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên;
  • Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

2. Thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

2.1 Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc

Khi phát hiện người sử dụng ma túy trái phép, công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép ma túy và tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nếu hành vi sử dụng trái phép ma túy bị phát hiện bởi cá nhân thì cá nhân đó báo cho công an cấp xã nơi người có hành vi vi phạm để lập biên bản và xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ.

Trường hợp 1: Người vi phạm cư trú tại xã, phường, thị trấn nơi xảy ra vi phạm và đã được giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy thì lập hồ sơ theo quy định như sau:

  • Bản tóm tắt lý lịch
  • Phiếu trả lời kết quả của người có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định này về tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  • Biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép;
  • Bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ;
  • Tài liệu chứng minh đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn bao gồm: Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy và Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;
  • Giấy xác nhận hết thời gian cai nghiện ma túy tại gia đình hoặc cai nghiện ma túy tại cộng đồng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc tài liệu chứng minh bị đưa ra khỏi chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế;
  • Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã về việc giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  • Văn bản của cơ quan lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trường hợp 2: Trường hợp người vi phạm có nơi cư trú không thuộc xã, phường, thị trấn nơi xảy ra vi phạm thì bàn giao người và biên bản vi phạm cho cơ quan Công an cấp xã nơi người vi phạm cư trú để tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Hồ sơ gồm có những nội dung y hệt như trên. Việc bàn giao phải được lập thành biên bản, mỗi bên giữ một bản.

Trường hợp 3: Trường hợp chưa xác định được nơi cư trú ổn định của người vi phạm thì tiến hành xác định nơi cư trú ổn định của người đó.

Trong thời hạn 15 ngày, nếu xác định được nơi cư trú ổn định của người đó rồi thì hồ sơ đề nghị được tiến hành như hai trường hợp trên; nếu không thì hồ sơ cần có:

  • Bản tóm tắt lý lịch
  • Phiếu trả lời kết quả của người có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định này về tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép
  • Bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ
  • Văn bản của cơ quan lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã về việc giao cho tổ chức xã hội quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong quá trình điều tra, thụ lý các vụ vi phạm pháp luật, cơ quan công an cấp tỉnh hoặc huyện phát hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép hoặc dấu hiện nghiện ma túy của người vi phạm thì tiến hành lập biên bản, xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

  • Trường hợp người vi phạm là người từ 18 tuổi trở lên, bị nghiện, có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện mà vẫn còn nghiện thì lập hồ sơ đề nghị theo quy định như trường hợp 1 và 2 bên trên. Hồ sơ được gửi cho Phòng Tư pháp cấp huyện nơi người đó cư trú.
  • Trường hợp người vi phạm bị nghiện, là người từ đủ 18 tuổi trở lên, chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện nhưng không có nơi cư trú ổn định thì lập hồ sơ đề nghị theo quy định như trường hợp 3. Hồ sơ được gửi cho phòng Tư pháp cấp huyện nơi cơ quan lập hồ sơ đóng trụ sở.

2.2 Thẩm quyền xác định người nghiện ma túy

Người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy là bác sĩ, y sĩ thuộc trạm y tế cấp xã, bệnh xá quân y, phòng khám khu vực, bệnh viện cấp huyện trở lên, phòng y tế của cơ sở cai nghiện bắt buộc có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh và chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy do cơ quan có thẩm quyền cấp.

Bộ Y tế hướng dẫn việc tập huấn và cấp chứng chỉ về điều trị cắt cơn nghiện ma túy. Người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy phải chịu trách nhiệm về việc xác định của mình trước pháp luật.

Áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện
Áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện

2.3 Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc

Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định, cơ quan lập hồ sơ thông báo bằng văn bản về việc lập hồ sơ cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

Văn bản thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm các nội dung cơ bản sau đây:

  • Họ và tên người vi phạm;
  • Lý do lập hồ sơ đề nghị;
  • Quyền của người được thông báo: người được thông báo có quyền đọc, ghi chép, sao chụp hồ sơ và phát biểu ý kiến về việc lập hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp huyện;
  • Địa điểm đọc hồ sơ;
  • Thời gian đọc hồ sơ: thời gian đọc hồ sơ là 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo

2.4 Gửi hồ sơ để kiểm tra tính pháp lý

Hết thời hạn đọc hồ sơ là 5 ngày như trên đã nói, cơ quan lập hồ sơ đánh bút lục và lập thành 2 bản, bản gốc gửi Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện để kiểm tra tính pháp lý, bản sao lưu tại cơ quan lập hồ sơ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Sau thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ.

Kết quả kiểm tra phải được lập thành văn bản và sau đó gửi cho Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cùng cấp.

2.5 Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Trưởng phòng Tư pháp, Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội đối chiếu hồ sơ đề nghị theo quy định với nội dung văn bản kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện.

Trường hợp hồ sơ đầy đủ thì đánh bút lục và lập thành hai bản, bản gốc chuyển cho Tòa án nhân dân cấp huyện, bản sao lưu tại phòng Lao động – Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì có văn bản đề nghị cơ quan lập hồ sơ bổ sung, trong đó nêu rõ lý do và các tài liệu cần bổ sung vào hồ sơ.

Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung các tài liệu theo yêu cầu.

Sau thời hạn trên, nếu hồ sơ không được bổ sung, Trưởng phòng Lao động – Thương binh và xã hội trả lại hồ sơ cho cơ quan lập hồ sơ đồng thời thông báo bằng văn bản cho Trưởng phòng Tư pháp và người bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm hồ sơ như mục 3.1 đã đề cập bên trên; Văn bản đề nghị của Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện về việc xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi Tòa án nhân dân cùng cấp. Văn bản nêu rõ tên cơ sở cai nghiện bắt buộc mà người bị đề nghị áp dụng biện pháp này sẽ phải thi hành.

Người không có nơi cư trú ổn định trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc sẽ được giao cho tổ chức xã hội quản lý.

2.6 Đưa người đã có quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện, cơ quan Công an cấp huyện chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội đưa người đi thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Việc đưa người chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc phải được lập thành biên bản, có sự chứng kiến của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, ấp, bản hoặc tương đương nơi người phải chấp hành quyết định cư trú.

Biên bản được lập thành 03 bản, một bản gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi ra quyết định, một bản gửi cơ quan lập hồ sơ và một bản lưu tại cơ quan công an cấp huyện theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

2.7 Thủ tục tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Khi tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc phải kiểm tra đối chiếu người, giấy chứng minh nhân dân (nếu có) hoặc dấu vân tay với các thông tin trong hồ sơ để bảo đảm đúng người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và lập biên bản giao nhận người, biên bản ghi rõ tình trạng sức khỏe của người đó, tài liệu, hồ sơ, tư trang, đồ dùng cá nhân mang theo.

Biên bản được lập thành 04 bản, mỗi bên giữ 01 bản, 01 bản gửi Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện để lưu hồ sơ và 01 bản gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi ra quyết định.

Hồ sơ tiếp nhận gồm:

  • Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện;
  • Bản sao biên bản đưa người thi hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do cơ quan Công an cấp huyện cung cấp;
  • Bản sao tóm tắt lý lịch của người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do cơ quan lập hồ sơ cung cấp.

2.8 Hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Các trường hợp được hoãn được quy định tại Khoản 1 Điều 111 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, cụ thể là:

  • Những người đang ốm nặng có chứng nhận của bệnh viện;
  • Gia đình đang có khó khăn đặc biệt được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Khi điều kiện được hoãn chấp hành quyết định không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành.

Các trường hợp được miễn được quy định tại Khoản 2 Điều 111 Luật Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, cụ thể là:

  • Mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện;
  • Trong thời gian hoãn chấp hành quyết định mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công hoặc không còn nghiện ma túy;
  • Đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện.

2.9 Giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện bắt buộc

Những người đang chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện và đã chấp hành được một nửa thời hạn, nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công, thì được xét giảm một phần hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

Trường hợp người đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc bị ốm nặng mà được đưa về gia đình điều trị thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định; thời gian điều trị được tính vào thời hạn chấp hành quyết định; nếu sau khi sức khoẻ được phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ 03 tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp hành; nếu trong thời gian tạm đình chỉ mà người đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại. Đối với người mắc bệnh hiểm nghèo, phụ nữ mang thai thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

Trong trường hợp người đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc bị ốm nặng mà được đưa về gia đình điều trị thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định; thời gian điều trị được tính vào thời hạn chấp hành quyết định; nếu sau khi sức khoẻ được phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ 03 tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp hành; nếu trong thời gian tạm đình chỉ mà người đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

Đối với người mắc bệnh hiểm nghèo, phụ nữ mang thai thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

Việc giảm thời hạn tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành các quy định trên được Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc quyết định trên cơ sở đề nghị của Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc.


3. Cơ sở pháp lý

  • Luật Xử lí vi phạm hành chính 2012
  •  Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lí hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Nghị định 136/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về vấn đề áp dụng biện pháp đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, có nội dung gây hiểu nhầm hoặc bạn có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới Tổng đài tư vấn luật hình sự trực tuyến của Luật Quang Huy theo HOTLINE 19006588 để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./.

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

4.2/5 - (5 bình chọn)
Tác giả bài viết